Tùy
bút
Bông Cúc Vàng – Kỷ Niệm Xưa
Hòa Đa
Những
nụ cúc hé ánh vàng tươi rung rinh đón chào gió sớm. Buổi sáng trời trong và mát
lạnh, con người và tạo vật dường như dễ chịu hơn. Những ngày hè oi bức qua rồi,
tôi như ngây ngất trước cảnh tạo vật chuyển mình. Dây mướp trên giàn khô héo dần
sau khi đã làm tròn bổn phận cho trái trong mấy tháng vừa qua, lá khô hát xào xạt
trong gió sớm; những chiếc lá trên cây hồng giòn cũng bắt đầu trở màu vàng nâu,
nũng nịu rời dần thân mẹ, để lại những cành khẳng khiu chờ giấc ngủ đông sắp đến,
tuần trước hai ông cháu đã lom khom dưới cây hồng, hái hết những trái cuối
cùng, thằng bé cười nắc nẻ lấy rỗ hứng mấy trái hồng ông hái ném cho; những
trái bưởi chín vàng ẩn mình trong đám lá, như dấu mình trong gió lạnh sớm mai;
những trái quít trên cây ở góc vườn đang chuyển sang vàng cam bắt mắt… đất trời
đang đổi tiết.
***
Thời
tiết như vầy ở đây mới chớm đông nhưng làm tôi nhớ thiết tha đến khoảng thời
gian giáp Tết hồi còn ở bên nhà.
1.
Buổi sáng thức dậy sớm đi thăm ruộng trong cái gây gây lạnh. Mặt trời lên rồi
nhưng vẫn chưa xua hết lớp sương đêm còn đang trải rộng trên cánh đồng bao la,
cảnh vật mờ mờ trong màu trắng đục. Hai tay thu gọn trước ngực như cố giữ chút
hơi ấm, tôi đi quanh bờ ruộng đang trổ hạt, những bông lúa dài cỡ gang tay đang
ngậm sữa, chưa đủ nặng để cong xuống, còn đang phe phẩy trong gió nhẹ ban mai.
Chân giẫm trên bờ cỏ gập ghềnh còn ướt đẫm sương đêm, tôi bước đi lòng sung sướng
nhìn kết quả lao động của mình. Nước trong ruộng đã được rút lần ra, nền ruộng
sẽ khô dần đủ cho đến lúc thu hoạch, đất sẽ ráo hẵn. Cúi xuống khua mạnh bụi
lúa gần bờ để kiểm tình trạng rầy bám gốc lúa hay ướm thử nâng niu bông lúa vừa
trổ khỏi bao, vẫn còn xanh…“Sương nhiều, nắng to, lúa sẽ chắc hột, năm nay chắc
trúng mùa đây…” tôi nghĩ thầm. Gió mát lạnh trong lành ban mai khiến tâm hồn
con người như bình thản hơn, khoáng đạt hơn.
Những ngày tháng đó tôi đã sống như một nông dân, học dần từ dân quê chất
phát cách sống, cách làm việc… Có những ngày Tết, hồi mới về làm ruộng dù nghèo
cũng ráng dành vài lít gạo tráng bánh và đem mấy bánh bể rách, cuốn dừa rám về
trong nỗi vui mừng của các con. Hạnh phúc cho con nhà nghèo trong ruộng không cần
đến quần áo đẹp, quà bánh, đồ chơi như trẻ ở chợ.
2.
Trời se lạnh cũng làm tôi nhớ lại những lúc co ro trên chiếc xe đạp ôm chờ
khách ở đầu chợ, góc đường trong gió đông. Cuộc đổi đời làm nảy sinh những nghề
nghiệp mà trước đây không bao giờ tôi nghĩ sẽ xuất hiện ở miền Nam trù phú này.
Khi mới đổi về miền Nam làm việc, nhìn thấy những chiếc xe lôi đạp, tôi đã cho
đây là một bước lùi của chiếc xích lô đạp của Sài Gòn và các tỉnh miền Trung. Vậy mà bây giờ phải kiếm sống bằng cách còng
lưng chở người trên chiếc xe đạp, kiếm vài đồng lẻ thêm vào với thúng bánh lọt
nhỏ nhoi đến độ không thể nào nhỏ nhoi hơn nữa của vợ bán quanh xóm, ôi cuộc sống
sao mà khiêm nhường và đơn giản đến vậy! Mà còn phải láo liên canh chừng các
anh công an, quản lý thị trường nữa chứ, thỉnh thoảng ngứa mắt bắt chơi vài thằng
kiếm ăn trên đường phố để chứng tỏ mình là người có quyền, để nghe bọn nó năn nỉ,
xin xỏ, để được lên lớp với chúng rằng trong xã hội mới, con người phải đổi mới
cho phù hạp với thời đại mới.
3.
Cũng những lúc trời trở heo may, lạnh như lúc này tôi lại nhớ đến những ngày
tháng lao động trong gió buốt, không biết ngày về trong các trại tù có mỹ từ là
trại cải tạo. Với dao, búa thô sơ những con người khô đét vì đói lạnh đó đã phải
phá rừng, những khu rừng ngập nước của vùng cửa sông Cửu Long. Với xẻng, giá và
sức người gầy gò trong những tấm áo rách bươm, họ phải đào đất đắp đường ngăn rừng,
làm bờ bao ngạn cho công trình đánh bắt tôm xuất khẩu, và những con người đầy
“tội lỗi” đó được nuôi ăn bằng khẩu phần mỗi ngày một lon gạo hẩm, mốc và đầy
sâu mọt. Cơ giới của miền Nam ngày trước đã biến mất từ lúc đổi đời. “Lao Động
là Vinh Quang”, nhưng lao động cưỡng bức chẳng thấy gì vinh quang, chỉ ngậm
nghe uất hận trong lòng; mà khẩu hiệu đó nghe sao giống khẩu hiệu “Lao Động để
giải phóng con người” trên các trại tập trung Do Thái của bọn Phát Xít Đức được
mô tả trong tiểu thuyết Giờ Thứ Hai Mươi Lăm.
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm”
Họ
nói vậy! Con người đã nhân danh những mỹ từ không có thật để hành hạ, làm nhục
người khác, lợi dụng sức lao động rẻ tiền để xây dựng một xã hội còn mang nhiều
bất công hơn cái xã hội mà họ nguyền rủa là chỉ gồm đĩ điếm chạy theo đế quốc.
Họ không có sức mạnh của người thắng trận, họ sợ những người đã thua trận.
4.
Những lúc trời trở lạnh luôn làm tôi nhớ đến những ngày còn trên bục giảng của
một trường trung học trong những ngày giáp Tết. Thời gian này, các trường in đặc
san xuân rồi bán cho nhau, trường nào cũng có những đoàn bán đặc san của trường
mình cho trường bạn, một thứ sinh hoạt không thể thiếu trước ngày các trường
nghỉ Tết. Học sinh không còn muốn nhét vào đầu những kiến thức khô khan của các
môn học, thầy giáo cũng không nỡ giảng bài trong không khí háo hức của học
sinh. Họ ca hát, ngâm thơ, kể chuyện… cho nhau nghe. Họ buông thả sau hơn ba
tháng học tập, họ tổ chức liên hoan, chụp hình kỷ kiệm, lưu luyến chia tay nhau
về ăn Tết, dù chỉ xa nhau chừng mươi ngày. Buổi chiều cuối cùng, đứng ở cửa sổ
phòng giáo sư, nhìn giòng học sinh chảy dần ra cổng, những tà áo dài trắng cuối
cùng uốn lượn trong nắng chiều đang se lạnh, sân trường vắng dần, lòng thấy trống
rỗng, như thiếu thốn cái gì… Rồi ngày mai, mình cũng về Sài Gòn, gặp lại gia
đình, gặp lại người thân, bỏ lại ngôi trường vắng tiếng nói cười, vắng hơi người;
các hành lang lớp học lặng lẽ trong hơi lạnh chiều đông.
5.
Trời trở lạnh, tuổi học trò mới lớn, tôi mê mãi âm thầm bước theo chân người
con gái cùng trường, người con gái có mái tóc dài ngang lưng, với chiếc nón lá
hững hờ, với chiếc áo ấm màu tím hay màu huyết dụ chỉ cài hờ hững một hột nút
trên cùng, che một phần chiếc áo dài trắng. Cả hai không ai nói với ai lời nào,
nàng luôn đúng giờ, tôi không bao giờ lỡ “hẹn”, lúc nào cũng lẽo đẽo theo sau một
đoạn. Để làm gì? không biết – Chỉ biết bữa nào không gặp là lòng bứt rứt không
yên. Trường ở ngoài rìa thị xã, con đường lên trường là con đường duy nhất, giờ
này nắng đã lên, nhưng không xua được cái lạnh không lạnh lắm của một tỉnh lỵ
ven biển, chỉ đủ để các cô cậu học sinh khoe áo ấm. Con đường Nguyễn Hoàng dẫn
lên trường đầy học trò và chỉ nhộn nhịp vào những giờ học sinh đến hay tan trường. Tiếng guốc gõ đều đặn của nàng trên đường như
những nhịp nhạc trong lòng tôi. Nàng đi, bình thản trò chuyện với bạn, cặp ôm
trước ngực, làm như không biết tôi đi phía sau, nhưng mọi người trong lớp đều
biết nàng có một cái đuôi, và có lẽ nàng cũng biết điều đó. Tôi không biết tại
sao? Bây giờ nhớ lại, tôi thấy mình trẻ con và buồn cười.
6.
Trời gây lạnh cũng đưa tôi về với tuổi thơ, nhà chỉ toàn anh em trai, chiều chiều
ngồi nhìn mẹ làm mứt, bên ngoài gió hú từng cơn qua mái nhà, chờ xong nồi mứt,
chia nhau chút đường cháy khét, chút mứt vụn còn sót lại ở đáy nồi, tận hưởng
cái chua ngọt của mứt me, cay nồng của mứt gừng, ngọt ngào của mứt bí… hay những
đêm trải chiếu nằm chờ cạnh bếp lò củi cháy rực rỡ ấm áp dưới nồi bánh tét, rồi
ngủ quên cho đến hôm sau. Những ngày trước Tết, mẹ cho mấy đồng dẫn mấy em ra
tiệm hớt tóc duy nhất trong thị trấn chờ hớt tóc ăn Tết, và lần nào ông thợ
cũng bảo “tụi mày nhỏ, ngồi chờ thêm chút
nữa, tao hớt cho ông này xong tới tụi mày” mà ngày Tết, khách hớt tóc nhiều
hơn ngày thường nên lần nào về nhà cũng bị cốc đầu oan uổng vì bị nghi là rong chơi.
***
Mấy
bụi cúc vàng sau nhà như chờ gió lạnh về để hé nụ. Trời ngày càng lạnh dần, phải
thu xếp lại mấy chậu hoa để che chắn giá rét. Những cơn gió lạnh ban mai mơn
man da thịt như gợi lại trong tôi kỷ niệm của những mùa lạnh khó quên trong quá khứ. Đời người rồi cũng qua mau; tóc
điểm sương, tôi còn được mấy mùa lạnh nữa để sống về quá khứ?
Houston
tháng 11/2009
No comments:
Post a Comment