Friday, July 20, 2018


 Con Đường trước mặt
Hòa Đa


Sau khi hỏi thăm những đàn anh đi trước, những điều hay dở, khó dễ, thuận lợi hay bất lợi của các trường mình nhắm tới, tôi góp đơn thi vào ba trường. Đầu tiên là Quốc Gia Hành Chánh, bài thi vào trường này khó ở luận văn và sinh ngữ. Đây không phải là những sở trường của tôi, nhưng tôi vẫn muốn thử thời vận cho nên tôi cũng không cảm thấy hào hứng lắm. Trường thứ hai là các ban kỹ sư của Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, tôi thích ngành Hóa, mà lúc đó (năm 1966) ngành này chưa có ban kỹ sư, phải tới năm học sau mới có, đến lúc đó, sinh viên ban cán sự hóa được ưu tiên chuyển qua ban kỹ sư. Tôi vẫn góp đơn vào ban cán sự, với ý nghĩ nếu đậu và nếu ban kỹ sư mở ra năm sau thì bất quá tôi coi như mất năm năm cho bằng kỹ sư hóa học. Cái kinh khủng của cuộc thi tuyển này là sinh viên được nhận vào chỉ có bốn mươi người và mười người dự khuyết mà số dự tuyển lên đến hàng ngàn, sự chen lấn để có một chỗ không phải dễ dàng vì trường chỉ lấy bốn mươi người có điểm số cao nhất. Cho nên ai cũng sửa soạn cho mình đến mức có thể để đua nhau giành chỗ. Kiết cũng cùng góp đơn với tôi vào trường này. Số trúng tuyển dự khuyết là để trám vào những người trúng tuyển chính thức nhưng không nhập học vì lý do gì đó (họ thi nhiều trường và họ chọn trường hợp với ý của họ hơn). Cái lợi thế của chúng tôi là bài thi chỉ ở trình độ tú tài, sức của sinh viên đã có dự bị cao hơn một bậc.
Mà không phải chỉ có ban Hóa. Ban kỹ sư nào của trung tâm Kỹ Thuật Phú Thọ cũng đông người chen lấn, đông hơn là cái chắc, vì nhãn hiệu kỹ sư cao hơn nhãn hiệu cán sự nhiều lắm. Chỉ có ban Viễn duyên Thuyền trưởng là tương đối it người góp đơn vì còn hơi xa lạ với tâm lý chung.  Ôi cái quan niệm có cái bằng Kỹ sư, Bác sĩ, Dược sĩ dán trước ngực đã đeo bám vào tư tưởng người Việt mình bao lâu nay khiến mọi người cứ lao đầu vào những thứ đoạn trường, trước làm nở mặt mẹ cha, sau là ấm thân…
Sau cùng là các loạt trường sư phạm. Nếu kể từ năm 1955, Việt Nam Cộng Hòa đã được mười một tuổi, hệ thống giáo dục của Việt Nam từ tiểu học đến đại học đang phát triển mạnh, tuy có dựa ít nhiều vào hệ thống giáo dục của Pháp, nhưng đã tạo những căn bản riêng cho Việt Nam, có tính phổ quát hơn đi sâu hơn vào mọi nơi của miền Nam, nhất là nông thôn, bậc tiểu học đã trở thành phổ quát cho dân chúng.  Vì vậy nhu cầu thầy cô giáo cũng lớn theo. Trường Sư Phạm dành cho tiểu học có hẳn cả một khu rộng lớn quay mặt ra đường Thành Thái, mở các lớp sư phạm cấp tốc và sư phạm thường xuyên. Trường Đại Học Sư Phạm chiếm hai dãy lầu nguyên là ký túc xá của Lycée Petrus Ký ngày xưa, ngay sau lưng trường Đại Học Khoa Học, có cổng ra vào chính trên đường Cộng Hòa, và cổng sau mở ra cạnh Tổng Thư Viện, thông với đường Trần Bình Trọng. Tôi không xa lạ với khuôn viên của Đại học Sư Phạm, nơi có mấy hàng cây me tây cổ thụ rợp bóng và là nơi mà bầy Tây Hồ trước kia và Chương Dương sau này thường chọn làm nơi sinh hoạt hàng tuần.
Sau khi nói chuyện với anh tôi, lúc này anh đã vào Saigon, kiếm được việc làm về cargo cho hãng hàng không Pan Am qua trung gian của Dennis Frères. Anh khuyên nên chọn Đại Học Sư Phạm. Cũng cần nói rõ thêm, Sư phạm tiểu học thường xuyên học mất hai năm, lấy dự tuyển từ học sinh có Tú Tài, Đại học Sư Phạm học ba năm nhưng lấy dự tuyển từ sinh viên đã có dự bị khoa học (cho các ban khoa học) hay dự bị văn khoa (cho các ban văn chương). Đây là tính toán mới, trường chỉ dạy những môn của nghề sư phạm như Tâm lý Thanh Thiếu Niên, cách soạn và giãng bài, thực hiện các thí nghiệm trung học, sinh ngữ… còn các kiến thức chuyên môn về môn dạy ở trung học, trường gởi sinh viên của mình qua Khoa Học hay Văn Khoa học theo học chương trình cử nhân Toán, Lý Hóa, Vạn Vật, Sử Địa, Việt Hán… Bằng cách này, trường chỉ trả những lệ phí ghi danh , thực tập…cho sinh viên và khỏi phải trả tiền cho quý vị giáo sư được mời về dạy tại trường như trước kia, ít tốn kém hơn, mà sinh viên có điều kiện tiếp cận với các giáo sư giỏi nhất về bộ môn của mình ở Khoa Học hay Văn Khoa.
Tính ra, theo tình trạng của tôi, học Đại Học Sư Phạm lợi hơn, ráng thêm một năm, khi tốt nghiệp, tôi sẽ là Giáo sư trung học đệ nhị cấp. Tôi quyết định góp đơn xin thi vào Đại học Sư Phạm, ban Lý Hóa, mong kiếm thêm cơ may cho những định hướng tương lai. Trường dự tuyển bốn mươi sinh viên cho ban Lý Hóa, số người góp đơn hơn năm trăm. Ở đâu mà lắm thí sinh thế không biết, thì ra một số đàn anh sau một hai năm vật lộn với chương trình cử nhân cũng góp đơn chen chân với đàn em, ít ra cái học bổng một ngàn mỗi tháng dành cho sinh viên sư phạm cũng hấp dẫn nhiều người.  Tôi cũng góp đơn xin học bổng về truyền hình (lúc đó đã bắt đầu phát sóng trên băng tần 11) học ở Hoa Kỳ.  Năm đó tôi  được hai mươi tuổi.
Tôi lại tiếp tục dạy kèm để có thể tự túc, thì giờ còn lại ôn luyện bài vở để sửa soạn “chen lấn”. Kỳ thi vào Quốc Gia Hành Chánh, tôi không mấy hài lòng. Bài luận văn thì không biết rõ có hợp ý giám khảo không, nhưng bài thi Pháp Văn thì hoàn toàn thất bại. Tôi biết mình không có chút hy vọng nào. Chỉ còn lại Cao đẳng Hóa và Đại học Sư Phạm.
Ngày nhận phiếu báo danh, tôi bật ngữa khi thấy hai ngày thi trùng nhau. Phải chọn một thôi. Tôi vẫn mê cao đẳng Hóa nên cứ ôn luyện bài vở theo hướng này, còn các môn thi cho đại học Sư Phạm chỉ học cầm chừng.  Thật ra, trường nào cũng phải thi hai môn Toán, Lý Hóa là chính, riêng Sư Phạm lại có thêm sinh ngữ, có thể chọn Anh văn hay Pháp văn, tất nhiên bài thi sinh ngữ không phải là chính, chỉ có tính cách kiểm tra trình độ đọc, hiểu và dịch, nhưng vì là thi tuyển nên không dám lơ là môn nào. Trong lòng đã chọn sẽ thi cao đẳng Hóa cùng với Kiết.
Tới ngày thi, trời xui khiến tôi nhét cả hai phiếu báo danh vào túi. Kiết đi trước vì phải đưa Mỹ Linh lên trường Khoa Học. Rời gác trọ, tôi lên đường đến Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ. Vừa đến góc đường Phan Đình Phùng – Lý Thái Tổ, xe xẹp bánh. Trời còn hơi sớm, phải dắt xe một đoạn mới có chỗ vá xe, sốt ruột nhìn đồng hồ… kiểu này thì trể thi mất, từ chỗ này lên đến Phú Thọ cũng phải mất gần nửa giờ. Xe sửa xong, lại nhìn đồng hồ, biết mình không tài nào lên Phú Thọ cho kịp giờ, đành phải đạp xe ngược lại trường Sư Phạm. Sao cái gì mình yêu thích cũng không nằm trong tầm tay của mình vậy không biết. Thôi thì cứ thuận theo “số mạng”. Nói vậy chớ tôi vẫn làm hết sức mình cho hai ngày thi.
Một hai tuần sau, có kết quả. Tôi chính thức bước vào Đại Học Sư Phạm khóa 9, hạng hai mươi trong tổng số  hơn ba mươi người trúng tuyển. Kể cũng lạ, trường dự tuyển bốn mươi sinh viên mà chỉ chấm đậu có hơn ba mươi người, nếu tôi nhớ không lầm thì con số đó là ba mươi hai, đủ biết ngày ấy tiêu chuẩn lựa chọn khe khắc tới mức nào. Ai cũng biết đó là thành quả của chính mình, không phải dựa cậy vào thế lực hay tiền bạc, ít nhất là trong trường hợp này. Kẻ có tiền và có quyền không muốn lựa chọn để làm thầy cô giáo, lương chỉ đủ sống và không có quyền thế trong cái xã hội thời bấy giờ. Kiết cũng đậu cán sự Hóa. Việc xin học bổng truyền hình cũng trôi mất sau buổi phỏng vấn.  Như vậy, coi như tôi đã chọn cho mình con đường đi không tính trước. Bạn bè, người thân ai cũng chúc mừng.  Tôi không tin vào số mạng, tử vi hay gì gì đó, nhưng trong cuộc đời có những dun rủi kỳ lạ
Như đã nói ở trên, sinh viên Sư Phạm được gởi sang học “nhờ” chương trình cử nhân bên Khoa Học, mỗi năm phải học hai chứng chỉ chuyên khoa (lúc đó hệ thống đại học Việt Nam còn ảnh hưởng của Pháp, chưa có chế độ tín chỉ), sao cho sau ba năm, khi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, giáo sư trung học đệ nhị cấp có trình độ của cử nhân. Nói là có trình độ vì ở Sư Phạm, điều kiện để coi như qua được một chứng chỉ (nào đó) là phải đạt được chín phần mười của sinh viên Khoa Học. Nói cho dễ hiểu, chứng chỉ Lý Hóa 1 chẳng hạn, sinh viên Khoa Học phải đạt 10/20 mới được coi như đậu phần thi viết, nhưng sinh viên Sư Phạm chỉ cần 9/20 là được xem như đậu thi viết. Thành thử sau ba năm, sinh viên tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm có thể có luôn bằng cử nhân Khoa Học hay ít ra, sức cũng tương đương.  Hai trường Sư Phạm và Khoa Học đâu lưng vào nhau, sinh viên qua lại dễ dàng.
Chương trình học gồm đủ thành phần của cử nhân Khoa Học. Năm thứ nhất, Lý Hóa 1  và Cơ học Thuần Lý, năm thứ hai, Quang và Điện, năm thứ ba, Hóa Hữu cơ và Hóa Vô cơ. Ai nghĩ mình còn dư sức cứ ghi danh thêm các chứng chỉ khác. Ngoài thời gian phải học và thực tập bên Khoa Học, sinh viên Sư Phạm còn phải mất thêm một số thời gian cho ngàng sư phạm như Tâm Sinh Lý thanh thiếu niên, Tổ chức học đường, Sinh ngữ, Phương pháp soạn bài, giảng bài, các thí nghiệm trung học…nghĩa là trăm thứ lỉnh kỉnh của nghề sư phạm, từ cách cầm phấn viết bảng sao cho khỏi kêu cót két, đến việc vị trí của thày giáo trong lớp, ngay cả trang phục, ngôn ngữ của thầy cô giáo cũng được đề cập. Những giờ học này, bài ghi lý thuyết thì ít, nhưng thảo luận thì nhiều, tất nhiên theo chiều uốn nắn của giáo sư, khiến môn học luôn hấp dẫn và nhiều hứng khởi. Chẳng hạn, có một lần, trong giờ của Giáo Sư Dương Thiệu Tống, đề tài tranh luận sôi nổi về tình yêu nam nữ giữa thầy hay cô với trò đang học, buổi thảo luận sang đến buổi thứ ba mới đi tới kết luận. Tuy cách dạy và học ở đại học không có tính ràng buộc, điểm danh, nhưng những kết quả cuối năm của các bài thi các môn này cũng có một vị trí trong việc lên lớp, bên cạnh các chứng chỉ bên Khoa Học.
Năm thứ nhất, sinh viên Sư Phạm học Lý Hóa 1 (GS Chu Phạm Ngọc Sơn) và Cơ Học Thuần Lý (GS Từ Ngọc Tĩnh) bên Khoa Học. Lần đầu tiên tôi chạm mặt với giáo trình của các môn ban cử nhân. Nếu hồi còn ở dự bị, bài tuy có hơi lạ nếu so với trung học, nhưng xem ra vẫn là những cơ bản, thì bây giờ môn nào cũng được đào sâu. Giáo sư vào lớp là cứ thao thao giảng theo tốc độ của xe đua, bất cần sinh viên có theo kịp hay không, sinh viên chen chúc nhau trong giảng đường nóng nực ghi ghi, chép chép, chỗ được chỗ mất. Sách tham khảo thì hạn chế mà chờ bài giảng (in roneo, do sinh viên – mà tụi tôi gọi đùa là lái cour – ghi lại và đưa cho thầy kiểm trước khi in, rồi bán cho sinh viên) thì có khi cả một hai tuần sau mới có, mà không phải môn nào cũng có lái cour, như lớp Cơ Học Thuần Lý chẳng hạn.  Rõ ràng là phải nắm được căn bản của giáo trình, cộng với khả năng ghi bài nhanh và chính xác trong giờ học, chớ không mong gì học thuộc vì quá dài. Lý Hóa 1 mà tiền thân của nó là Hóa Lý dầy hơn sáu trăm trang roneo (tôi may mắn mua lại được một bộ cũ tới…ba năm – có còn hơn không !), Cơ học Thuần Lý gồm  hai cuốn hơn bốn trăm trang… bằng tiếng Pháp, mặc dù thầy giảng bằng tiếng Việt.  Bây giờ mới biết đá biết vàng trong cuộc vật lộn với tri thức. Về sau, khi ra trường đi dạy mới thấy, kiến thức phải học ở đại học nếu là mười thì dùng để đi dạy ở trung học chưa đến một.

Tình hình chính trị của miền Nam nhìn chung vẫn còn nhiều lộn xộn, nhưng ít nhiều nền nếp hơn. Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do các tướng lãnh quân đội cầm đầu đã giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch (vai trò như thủ tướng), thành lập nội các, quyết dẹp nạn đầu cơ, tham nhũng (?) tự mệnh danh là chính phủ của người nghèo. Kinh tế oằn oại dưới sự thao túng của người Hoa, nhất là về lúa gạo. Tướng Kỳ, với biệt danh Tướng Râu Kẽm, cho lập pháp trường cát, xử bắn Tạ Vinh sau một phiên tòa quân sự đặc biệt, Tạ Vinh là một thương gia cỡ lớn trong Chợ Lớn, chuyên đầu cơ sắt thép, vật tư xây dựng và cả lúa gạo. Kỳ muốn dằn mặt đám xì thẩu người Hoa. Họ chùn bước. Pháp trường cát được dựng ở bùng binh chợ Bến Thành, dựa lưng vào trụ sở của Hỏa Xa Việt Nam. Biện pháp đó làm tình hình kinh tế dịu lại phần nào, dân chúng hả hê, nhưng cũng gặp không ít những phản ứng bất lợi về phía báo chí, thông tấn nước ngoài. Nhưng cũng nhờ vậy những lộn xộn ở các sân trường đại học cũng giảm nhiệt theo.
Cuối năm, tôi chỉ đậu được chứng chỉ Lý Hóa 1, rớt Cơ học. Góp đơn thi kỳ nhì (vào khoảng cuối tháng Tám) cũng không đủ điểm, giáo sư Tĩnh không chấp nhận điểm có tính khoan nhượng cho sinh viên sư phạm (9/10 số điểm chính thức). Với ông, chỉ có rớt hay đậu. Có người chỉ thiếu nửa điểm, xin ông cho vào vấn đáp, ông cười khẩy trả lời: vào vấn đáp tôi vẫn sẽ đánh rớt anh. Sinh viên năm đó rớt hơn phân nửa sĩ số của lớp, Giáo Sư Lý Công Cẩn phụ trách phần khoa học của trường Sư Phạm, xin gặp Giáo Sư Tĩnh để thương lượng, ông không muốn tiếp, bắt phải chờ... Đám sinh viên không may mắn, trong đó có tôi, đứng lóng ngóng bên ngoài, mong chờ phép lạ. Nhưng xem chừng lời nói của giáo sư Cẩn không đủ trọng lượng và uy tín để giáo sư Tĩnh nao lòng, đổi ý… Mười mấy thằng cay đắng ngậm ngùi học lại năm thứ nhất. Năm sau, 1967-1968, số được lên lớp, cộng với số sinh viên của năm trước còn sót lại, trường có được khoảng hơn hai mươi sinh viên cho năm thứ hai. Trường lại tuyển thêm sinh viên mới cho năm thứ nhất, cộng với đám tụi tôi ở lại, năm thứ nhất lại có gần bốn mươi sinh viên. Như vậy tôi mất hai năm học cho năm thứ nhất (66/67 và 67/68). 
Năm học sau, Sư Phạm kiềng mặt giáo sư Tĩnh, bỏ luôn Chứng chỉ Cơ học Thuần Lý và thay bằng chứng chỉ Toán Thuật trong Vật Lý, thường được gọi tắt là TMP (Technique Mathématique dans Physique), hồi trước có tên là Phương Pháp Toán Trong Vật Lý thường được gọi là MMP (Methode Mathematique dans Physique), học hai môn Giải Tích (Thầy Hoàng Mạnh Để) và Đại số (Thầy Lâm Lý Hùng). Vì đã có chứng chỉ Lý Hóa 1, tôi và một số bạn chỉ phải học TMP, nhưng lại mất học bổng một ngàn một tháng.
Năm đó, lớp TMP chỉ có chừng tám mươi sinh viên mà non phân nửa là của Sư Phạm, số bạn mới vào năm thứ nhất bận bịu với hai chứng chỉ bên Khoa học, thêm các giờ chuyên về sư phạm nên khó điều tiết giờ dự lớp ở TMP, học bữa được bữa mất, số ở lại như chúng tôi chỉ học một môn nên rộng thì giờ, bạn bè đề nghị tôi làm “lái” cour TMP.  À, nghe cũng có lý, chỉ cần lên lớp đều đặn, ghi chép cẩn thận, đối chiếu với bài học của những năm trước, đưa cho thầy kiểm trước, rồi đưa đi đánh máy, in, công việc có phần thích thú lại có thêm thu nhập.  Cái khó là tìm cho được nơi đánh máy giỏi và biết ít nhiều về các ký hiệu toán học, để viết bằng tay trên stencil. Tất nhiên tôi phải đọc trước, sửa chữa những chỗ viết sai, vẽ thêm hình, đồ thị… nói chung là làm những gì máy chữ không làm được. Cour của TMP có lẽ là mắc nhất vì không đông sinh viên, công đánh máy cao (cần người có ít nhiều kiến thức toán) nhưng tôi vẫn kiếm được tiền nhờ công việc này, vì gần như tất cả sinh viên Sư Phạm ủng hộ, các bạn bên Khoa học cũng hưởng ứng. Vả lại, việc này giúp tôi rất nhiều: ghi chép cẩn thận bài giảng, đọc và viết lại, nộp cho thầy, viết lại nếu cần rồi đưa đánh máy, đọc lại lần chót, sửa chữa cuối cùng… trước khi đưa in; tính ra, một bài học tôi phải đọc đi đọc lại , viết đi viết lại bốn năm lần, xem chừng không ai  “học” kỹ bằng tôi.  Lợi trăm bề!
Bây giờ tôi đã hoàn toàn tự túc ở Saigon, không dựa vào gia đình nữa. Thuận, một người bạn trong hướng đạo rủ tôi về ở chung. Thuận sống với gia đình, tương đối khá giả, có cả phòng riêng cạnh phòng ông ngoại của Thuận vì Thuận là người trực tiếp chăm sóc cho ông. Gia đình cho tôi sống ở đó với Thuận, cùng nhau học hành. Tôi vẫn ăn uống bên ngoài, nay bình dân, lề đường, mai quán cơm xã hội, cứ tùy theo túi tiền và sự thuận tiện. Thuận cũng học Khoa học,  dự bị SPCN, rất chuyên cần, thi đậu ngay năm đầu, bây giờ đang học chuyên khoa về địa chất.  Ba má Thuận ngày trước đi kháng chiến nhưng bỏ về thành, làm chủ một tờ tuần báo, tờ Chân Trời Mới. Thuận chỉ  cho tôi cách sửa morasse trên bản vỗ nháp trước khi báo lên khuôn. Nhà Thuận trên đường Huỳnh Quang Tiên mà nhà in trên đường Cô Giang, tại góc đường có một chỗ chơi bi-da bàn, hai đứa tuần nào cũng ghé, khi đi giao bản sửa cho nhà in. Ở đó Thuận tập cho tôi hút thuốc, lần đầu tôi hút thử Salem, chỉ là thứ nhẹ hều thơm mùi bạc hà, mà sặc lên sặc xuống. Dầu vậy, lâu dần cũng quen, buổi nào chơi bi-da, thế nào cũng hút một hai điếu, uống một ly cà phê đá, tôi bắt đầu làm quen với những thú của thanh niên thời đại đó.
Ngoài số sinh viên học lại năm thứ nhất, tôi có thêm một số bạn mới vào sư phạm, xem chừng thân thiết hơn các bạn năm cũ, gắn bó với nhau vì gần như gặp gỡ hàng ngày. Vân từ Long An, Chiêu Minh từ Rạch Giá, Sơn từ Nha Trang, Khương, Tạo ở Saigon. Lúc này anh chị tôi đã vào Saigon, tôi từ giả Thuận, về sống với anh chị, trên đường Dương Bá Trạc, Rạch Ông. Nhà mướn vách gạch, mái tôn chỉ đủ chỗ cho năm người gồm anh chị và tôi với hai cháu nhỏ. Lương của anh ở Dennis Frères khá hơn nhiều so với thời dạy theo khế ước trước kia.  Anh tôi có một chiếc gắn máy hiệu Goebel để làm chân, còn tôi vẫn miệt mài với chiếc xe đạp cũ rích, không vè, không thắng, không có cả cạt-te, đạp xe lúc nào cũng phải coi chừng để ống quần không phải bị cuốn vào dây sên… lúc đó Saigon đã bắt đầu nhập xe gắn máy của Nhật, và thị dân Saigon có chút tiền bạc cũng đã theo kịp thời đại, sắm một chiếc, sang thì Honda, tệ một chút thì Kawasaki.
Sơn ở tỉnh vào học ở Saigon, được cấp phòng ở Đại học xá Minh Mạng, sách vở của nhiều lớp đàn anh đã tốt nghiệp để lại rất nhiều, nhất là những cour roneo, tôi vẫn thường xuống đó ăn giầm nằm giề, và học “ké”. Nhà bếp của Đại học xá được gọi là foyer (lúc đó không gọi là cantin như sau này) dành cho sinh viên do nhà thầu trông coi, nhưng thức ăn lại được nhà nước thường xuyên kiểm soát nên rất có chất lượng, muốn có phần ăn phải mua vé ăn trước cả tuần có in ngày, không dùng coi như mất và họ chỉ bán cho sinh viên trong Đại học xá, thỉnh thoàng mỗi phòng lại được phát một hai ổ bánh mì cỡ lớn, cũng đỡ dạ cho sinh viên lúc học khuya. Phòng học dành cho sinh viên rộng rãi và yên tĩnh, mở cửa suốt hai mươi bốn giờ, quạt trần quay suốt ngày, bất kể lúc nào cũng có mấy con mọt sách cắm đầu vào sách vở. 
Nói vậy nghe thì hay, chớ Đại học xá cũng là tổ quỷ, ở đó chỉ có nam sinh viên sống, thỉnh thoảng họ đưa bò lạc vào trốn trong đó và hành lạc tập thể, hoặc tụ tập đánh bài thâu đêm suốt sáng, ngày này qua ngày kia (thường là binh xập xám) Đại học xá cũng là nơi dung thân khá an toàn của đám sinh viên thân Cộng, chuyên xách động dưới chiêu bài của sinh viên hợp pháp...
Có thể nói, Đại học xá Minh Mạng là lò luyện thép mà cũng là lò thiêu thân xác và tinh thần của sinh viên, đó là nơi có thể giúp sinh viên trở thành siêu nhân hay biến họ thành ác quỷ. Cuối mỗi năm học, sinh viên phải có giấy chứng nhận có đủ sức khỏe để dự thi do bác sĩ của Ty Y Tế Sinh viên cấp, không ít sinh viên ở Đại học xá bị cấm thi và bắt phải nằm bệnh viện Hồng Bàng (bệnh viện lao) vì học nhiều mà dinh dưỡng kém hay phải đi điều trị ở bệnh viện hoa liễu do chơi bời, mắc các bịnh phong tình. Thời đó sinh viên ở Đại học xá mục kích một chuyện tình bi, hài, họ đặt cho một cái tên nghe rất trữ tình “Áo Tím yểm Đại Học Xá”.
Chẳng là có một chàng, cuối năm khám sức khỏe, phim phổi cho thấy phổi bị nám, bác sĩ bắt phải nằm điều trị ở bệnh viện Hồng Bàng. Không biết vì cô đơn hay vì tác dụng phụ của thuốc điều trị, anh ta qua lại, gần gủi với một nữ y tá, hẹn hò thề thốt đủ thứ. Hết bệnh, anh ta trở về Đại học xá, không nhớ hay muốn quên người tình một thời. Cô y tá có vẻ lớn tuổi hơn, không đẹp, suốt bao ngày chờ chực, mong ngóng người tình trước cửa, cuối cùng cũng nhận ra sự phụ bạc của chàng. Mỗi buổi sáng, nàng mặc chiếc áo dài màu tím (chắc ngày xưa hai người có kỷ niệm với màu tím này) đứng đợi chàng ở cổng Đại học xá. Thông thường, cổng chỉ mở một cửa nhỏ bên cạnh cổng lớn, xe gắn máy phải chầm chậm ra vào từng chiếc một. Nàng cứ chờ, cho đến khi chàng đi ra, khệnh cho một cán dù vào đầu. Ngày nào cũng vậy, chàng cũng cam chịu như một hành động sám hối của mình, không dám oán trách cô y tá lụy tình. Vả lại, không chịu cũng không được, chẳng lẽ cứ trốn trong phòng, ngày này qua ngày kia?
Ở Đại học xá Minh Mạng có rất nhiều chuyện vui, chuyện buồn, có nhiều người đói mờ mắt vì không có tiền mua vé cơm, buổi chiều ngồi dài ở sân bóng chuyền, chờ tên nào đi chơi với đào, hay được mời ăn cơm khách, không dùng vé cơm, đưa lên vẫy vẫy, hỏi: có thằng nào cần vé cơm? là có dăm ba cánh tay đưa lên: tao, tao; Ở đó phơi cái khăn mặt hay cái quần lót ngoài trời phải ngồi canh chừng, nếu không sẽ thấy nó thành nùi giẻ chùi xe của một tên ẩu tả nào đó; Ở đó cũng phải dặn bạn gái đừng đến tìm, hoặc có đến phải đưa đi chỗ khác ngay, vì nếu ngồi trong phòng tiếp khách, thế nào cũng có thằng thò đầu vào hỏi: Ê, hôm qua mượn chai thuốc xức lác của tao rồi mày để đâu? Ở đó cũng là nơi xuất phát của mấy cuộc xung đột với cảnh sát và là nơi ăn lựu đạn cay mệt nghỉ vì chỉ có một cổng ra vào dễ bị phong tỏa, chỉ cần một nhóm nào đó hô đả đảo cái gì đó thì chỉ một lúc sau đã thấy cảnh sát đến, và tuyệt vời nhất, ở đó người sinh viên sống không bị ràng buộc vào điều gì trừ ý chí của mình ... Đủ mọi thứ dung tục của cuộc đời trong Đại học xá!
Vân từ Rạch Kiến, Long An lên Saigon ở trọ học. Suốt ngày lê la với tôi, cùng học bài, làm bài. Vài tuần mới về quê một lần để mang thêm tiếp tế. Thích nhất là mỗi lần ở quê lên, hắn mang theo trái cây, mùa nào thức ấy, hai đứa ăn thỏa thích. Ăn không xuể, mang xuống Sơn, hú một tiếng, có bao nhiêu cũng hết. Tánh Vân hiền lành, có phần hơi chậm, nhưng chí tình với anh em. Rạch Kiến lúc đó là vùng xôi đậu, tuy không xa Saigon, nhưng chúng tôi xuống chơi chỉ sáng đi chiều về, không dám ở qua đêm.  Gần cuối năm thứ ba, Vân lập gia đình, tôi và Khương làm phù rể cho nó, về Rạch Kiến rước dâu, nó bảo đảm an ninh cho đám sinh viên từ Saigon. Về sau mới biết, gia đình Vân có “liên hệ” với cả hai bên.  Tạo cũng lập gia đình với một sinh viên Luật, nhờ tôi tổ chức một tiệc ngọt để đãi bạn bè của cô dâu, chú rễ. Tôi mượn câu lạc bộ của trường, trang trí cho đẹp, làm nơi tiếp đãi. Tôi sinh hoạt trong hướng đạo, anh em đề nghị làm quản trò (hoạt náo viên) cho tiệc cưới, “phá” cô dâu chú rễ một bữa ra trò. Chiêu Minh có gia đình chuyên làm nước mắm ở Phú Quốc, nhưng học trung học ở Rạch Giá hay Long Xuyên, ở Saigon với gia đình người chị cạnh Chợ Lớn, trên đường ra Phú Lâm, làm đại lý bán nước mắm Phú Quốc. Nhà Khương thuộc họ đạo Tân Định, Mẹ Khương theo Công Giáo, rất thương tụi tôi, bà xem tôi như con. Về sau, khi kết hôn tôi nhờ Bà làm đại diện cho đàng trai và là người chứng cho tôi ở nhà thờ Huyện Sĩ. Tình bạn thân thiết giữa chúng tôi bền chặt suốt ba năm bên nhau, cùng thăng trầm theo thời gian, cho mãi đến bây giờ, sau gần năm mươi năm, tình bạn vẫn còn, mỗi lần tôi về Việt Nam là tìm cách gặp mặt.
Cũng trong niên khóa 1967-1968 đó, sắc luật tổng động viên ban hành, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, kể cả đại học tư, được miễn dịch vì lý do học vấn, nhưng cuối năm phải lên lớp, hay đậu hai chứng chỉ chuyên khoa hay đậu đủ số tín chỉ của học trình cử nhân (lúc đó Đại Học Vạn Hạnh của Thày Thích Minh Châu đã theo chế độ tín chỉ), không đạt được điều này là mất hoãn dịch, sẽ bị gọi nhập ngũ, học ở Bộ Binh Thủ Đức. Cho nên tên nào cũng học chết bỏ. Năm đó Loan cũng tốt nghiệp sư phạm cấp tốc và đi dạy ở Xuyên Mộc (Bà Rịa) một địa danh tôi biết tên nhưng chưa từng đi tới. Tôi thì  cắm đầu học vì cái búa bị động viên đi Thủ Đức nếu không lên lớp, lúc nào cũng lơ lửng trên đầu. Chúng tôi không còn dịp gặp nhau như ngày xưa, chỉ thỉnh thoảng nàng về Saigon chơi, ghé hội quán của đạo Bình Than, nằm trên đường Trần Bình Trọng (cũng là nhà của anh Đạo Trưởng) chúng tôi mới gặp nhau, uống với nhau ly cà phê và vẫn nói chuyện mông lung, không chủ đích. Ra đời rồi, nàng có vẻ đỏm đáng hơn, trang điểm hơi đậm, quần áo cũng màu mè hơn, tôi cảm thấy như đánh mất cái gì quen thuộc từ Loan. Có lần, nhân chỉ có hai đứa ngồi với nhau, tôi nói về sự thay đổi quá nhanh và trách có lẽ nàng đã quên (hay muốn quên) thời còn hàn vi của vài năm trước. Loan chỉ gượng cười nói: Thạnh chú ý chi đến việc trang điểm, phục sức của con gái. Tuy nhận rằng nàng nói có phần đúng nhưng tôi chỉ buồn rầu nghĩ thầm Loan đã tự đánh mất hình ảnh tôi đã có về nàng từ trước. Tự nhủ sẽ không nói về chuyện này với Loan nữa, và có lẽ vì vậy mà tôi không còn mấy hứng thú gặp gỡ, nói chuyện, dù bây giờ, những cơ hội đó không còn nhiều nữa, chắc là tôi khe khắc quá… Lại một lần nữa, tôi lại tập trung vào mục tiêu chính là học tập.
Không khí chính trị ở Saigon lúc đó không có vẻ êm đềm gì cho lắm. Những tin tức, hình ảnh về chiến tranh vẫn xuất hiện thường trực trên báo chí, TV, radio
Một người bạn, Võ Ba, cũng học khoa học, cùng quê với tôi, cùng tuổi học chung thời tiểu học, chỉ dưới một lớp vì đi học trể hơn một năm, thường vẫn cùng nhau đi bộ từ nhà đến trường Trung Học Bán Công Phan Rí Cửa.  Lên trung học đệ nhị cấp anh lại là học sinh của anh tôi ở Phan Bội Châu, lúc anh tôi còn dạy Pháp Văn ở đó. Bây giờ anh ta đang theo đuổi chương trình cử nhân Hóa. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau trong sân trường, vẫn bá vai nhau đi uống cà phê, nói chuyện chính trị, thời sự. Anh có vẻ như dấn thân hơn, tham gia có phần tích cực vào các sinh hoạt phản đối chính quyền của Phật Giáo, tuy vậy anh không hề hé lộ những hoạt động của anh và cũng không rủ rê tôi tham gia vào các hoạt động của anh. Tôi chỉ xem anh như người bạn từ hồi niên thiếu, thỉnh thoảng anh cũng qua nhà thăm anh tôi là thầy cũ. Tôi cũng thường ghé qua nhà của anh trong hẽm trên đường Lý Thái Tổ, sau nhà thờ Bắc Hà, gần chợ cá Trần Quốc Toản…
Cho đến một ngày…
Sau buổi cơm tối, tôi và anh tôi đang đứng xem TV, chương trình thời sự trong ngày, xướng ngôn viên đang nói về phiên tòa xử trắng án hai mươi sinh viên. Các bị cáo bị tra khảo lê lết dìu nhau  ra tòa vì bị tình nghi là hoạt động nội thành cho Việt cộng. Tòa tha bổng vì không đủ chứng cớ. Trong số đó có Võ Ba. Số sinh viên này được tổng hội sinh viên bảo lãnh về tịnh dưỡng ở Đại Học Dược Khoa, đối diện với Văn Khoa. Ở đó họ được bảo vệ chặt chẽ bỡi những sinh viên chống chính quyền, cũng ở đó hàng ngày nảy sinh xô xát giữa lực lượng chống cộng trong hàng ngũ sinh viên với nhóm trên… và mỗi lần có xô xát là có sự can thiệp bằng lựu đạn cay của cảnh sát dã chiến.  Ít lâu sau, khi anh về nhà, tôi lại nghe tin anh bị bắt lại trong lúc đang gần các kỳ thi của các chứng chỉ cuối niên khóa. Vợ Võ Ba nhờ tôi lãnh những bài học anh đã dặt mua của chứng chỉ Hóa Hữu Cơ II, chị gửi vào tù để anh học thi. Cuối năm anh xin đặc cách dự thi, được chấp nhận, anh đậu phần thi viết, sau đó làm đơn xin bảo lưu kết quả, chờ mãn hạn tù về thi phần thực tập.
Tôi kể chuyện này, và một chuyện khác tôi biết rõ về sau khi dạy ở Tống Phước Hiệp, một học sinh, cha đi theo Việt cộng, mẹ về thành sống chấp nối với một cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, thi vào Sư Phạm Vĩnh Long, bên an ninh của tỉnh biết cha ruột của em đang là huyện ủy của một huyện trong tỉnh, nhưng vẫn chấp thuận cho em theo học đến tốt nghiệp và được bổ nhiệm. Những chuyện này cho thấy thời Việt Nam Cộng Hòa, người ta không chú ý nhiều lắm về lý lịch ba đời như sau này. Ai có khả năng đều được đào tạo một cách bình đẳng, miễn đừng tham gia chính trị, chống chính quyền, hoạt động cho Mật trận Giải Phóng

No comments:

Post a Comment

MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI Nhân cứ nhìn trộm người đàn ông phía bên kia kệ hàng của siêu thị. Ông ta không biết có người nhìn mình, v...