Friday, July 20, 2018


 Con Đường trước mặt
Hòa Đa


Sau khi hỏi thăm những đàn anh đi trước, những điều hay dở, khó dễ, thuận lợi hay bất lợi của các trường mình nhắm tới, tôi góp đơn thi vào ba trường. Đầu tiên là Quốc Gia Hành Chánh, bài thi vào trường này khó ở luận văn và sinh ngữ. Đây không phải là những sở trường của tôi, nhưng tôi vẫn muốn thử thời vận cho nên tôi cũng không cảm thấy hào hứng lắm. Trường thứ hai là các ban kỹ sư của Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, tôi thích ngành Hóa, mà lúc đó (năm 1966) ngành này chưa có ban kỹ sư, phải tới năm học sau mới có, đến lúc đó, sinh viên ban cán sự hóa được ưu tiên chuyển qua ban kỹ sư. Tôi vẫn góp đơn vào ban cán sự, với ý nghĩ nếu đậu và nếu ban kỹ sư mở ra năm sau thì bất quá tôi coi như mất năm năm cho bằng kỹ sư hóa học. Cái kinh khủng của cuộc thi tuyển này là sinh viên được nhận vào chỉ có bốn mươi người và mười người dự khuyết mà số dự tuyển lên đến hàng ngàn, sự chen lấn để có một chỗ không phải dễ dàng vì trường chỉ lấy bốn mươi người có điểm số cao nhất. Cho nên ai cũng sửa soạn cho mình đến mức có thể để đua nhau giành chỗ. Kiết cũng cùng góp đơn với tôi vào trường này. Số trúng tuyển dự khuyết là để trám vào những người trúng tuyển chính thức nhưng không nhập học vì lý do gì đó (họ thi nhiều trường và họ chọn trường hợp với ý của họ hơn). Cái lợi thế của chúng tôi là bài thi chỉ ở trình độ tú tài, sức của sinh viên đã có dự bị cao hơn một bậc.
Mà không phải chỉ có ban Hóa. Ban kỹ sư nào của trung tâm Kỹ Thuật Phú Thọ cũng đông người chen lấn, đông hơn là cái chắc, vì nhãn hiệu kỹ sư cao hơn nhãn hiệu cán sự nhiều lắm. Chỉ có ban Viễn duyên Thuyền trưởng là tương đối it người góp đơn vì còn hơi xa lạ với tâm lý chung.  Ôi cái quan niệm có cái bằng Kỹ sư, Bác sĩ, Dược sĩ dán trước ngực đã đeo bám vào tư tưởng người Việt mình bao lâu nay khiến mọi người cứ lao đầu vào những thứ đoạn trường, trước làm nở mặt mẹ cha, sau là ấm thân…
Sau cùng là các loạt trường sư phạm. Nếu kể từ năm 1955, Việt Nam Cộng Hòa đã được mười một tuổi, hệ thống giáo dục của Việt Nam từ tiểu học đến đại học đang phát triển mạnh, tuy có dựa ít nhiều vào hệ thống giáo dục của Pháp, nhưng đã tạo những căn bản riêng cho Việt Nam, có tính phổ quát hơn đi sâu hơn vào mọi nơi của miền Nam, nhất là nông thôn, bậc tiểu học đã trở thành phổ quát cho dân chúng.  Vì vậy nhu cầu thầy cô giáo cũng lớn theo. Trường Sư Phạm dành cho tiểu học có hẳn cả một khu rộng lớn quay mặt ra đường Thành Thái, mở các lớp sư phạm cấp tốc và sư phạm thường xuyên. Trường Đại Học Sư Phạm chiếm hai dãy lầu nguyên là ký túc xá của Lycée Petrus Ký ngày xưa, ngay sau lưng trường Đại Học Khoa Học, có cổng ra vào chính trên đường Cộng Hòa, và cổng sau mở ra cạnh Tổng Thư Viện, thông với đường Trần Bình Trọng. Tôi không xa lạ với khuôn viên của Đại học Sư Phạm, nơi có mấy hàng cây me tây cổ thụ rợp bóng và là nơi mà bầy Tây Hồ trước kia và Chương Dương sau này thường chọn làm nơi sinh hoạt hàng tuần.
Sau khi nói chuyện với anh tôi, lúc này anh đã vào Saigon, kiếm được việc làm về cargo cho hãng hàng không Pan Am qua trung gian của Dennis Frères. Anh khuyên nên chọn Đại Học Sư Phạm. Cũng cần nói rõ thêm, Sư phạm tiểu học thường xuyên học mất hai năm, lấy dự tuyển từ học sinh có Tú Tài, Đại học Sư Phạm học ba năm nhưng lấy dự tuyển từ sinh viên đã có dự bị khoa học (cho các ban khoa học) hay dự bị văn khoa (cho các ban văn chương). Đây là tính toán mới, trường chỉ dạy những môn của nghề sư phạm như Tâm lý Thanh Thiếu Niên, cách soạn và giãng bài, thực hiện các thí nghiệm trung học, sinh ngữ… còn các kiến thức chuyên môn về môn dạy ở trung học, trường gởi sinh viên của mình qua Khoa Học hay Văn Khoa học theo học chương trình cử nhân Toán, Lý Hóa, Vạn Vật, Sử Địa, Việt Hán… Bằng cách này, trường chỉ trả những lệ phí ghi danh , thực tập…cho sinh viên và khỏi phải trả tiền cho quý vị giáo sư được mời về dạy tại trường như trước kia, ít tốn kém hơn, mà sinh viên có điều kiện tiếp cận với các giáo sư giỏi nhất về bộ môn của mình ở Khoa Học hay Văn Khoa.
Tính ra, theo tình trạng của tôi, học Đại Học Sư Phạm lợi hơn, ráng thêm một năm, khi tốt nghiệp, tôi sẽ là Giáo sư trung học đệ nhị cấp. Tôi quyết định góp đơn xin thi vào Đại học Sư Phạm, ban Lý Hóa, mong kiếm thêm cơ may cho những định hướng tương lai. Trường dự tuyển bốn mươi sinh viên cho ban Lý Hóa, số người góp đơn hơn năm trăm. Ở đâu mà lắm thí sinh thế không biết, thì ra một số đàn anh sau một hai năm vật lộn với chương trình cử nhân cũng góp đơn chen chân với đàn em, ít ra cái học bổng một ngàn mỗi tháng dành cho sinh viên sư phạm cũng hấp dẫn nhiều người.  Tôi cũng góp đơn xin học bổng về truyền hình (lúc đó đã bắt đầu phát sóng trên băng tần 11) học ở Hoa Kỳ.  Năm đó tôi  được hai mươi tuổi.
Tôi lại tiếp tục dạy kèm để có thể tự túc, thì giờ còn lại ôn luyện bài vở để sửa soạn “chen lấn”. Kỳ thi vào Quốc Gia Hành Chánh, tôi không mấy hài lòng. Bài luận văn thì không biết rõ có hợp ý giám khảo không, nhưng bài thi Pháp Văn thì hoàn toàn thất bại. Tôi biết mình không có chút hy vọng nào. Chỉ còn lại Cao đẳng Hóa và Đại học Sư Phạm.
Ngày nhận phiếu báo danh, tôi bật ngữa khi thấy hai ngày thi trùng nhau. Phải chọn một thôi. Tôi vẫn mê cao đẳng Hóa nên cứ ôn luyện bài vở theo hướng này, còn các môn thi cho đại học Sư Phạm chỉ học cầm chừng.  Thật ra, trường nào cũng phải thi hai môn Toán, Lý Hóa là chính, riêng Sư Phạm lại có thêm sinh ngữ, có thể chọn Anh văn hay Pháp văn, tất nhiên bài thi sinh ngữ không phải là chính, chỉ có tính cách kiểm tra trình độ đọc, hiểu và dịch, nhưng vì là thi tuyển nên không dám lơ là môn nào. Trong lòng đã chọn sẽ thi cao đẳng Hóa cùng với Kiết.
Tới ngày thi, trời xui khiến tôi nhét cả hai phiếu báo danh vào túi. Kiết đi trước vì phải đưa Mỹ Linh lên trường Khoa Học. Rời gác trọ, tôi lên đường đến Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ. Vừa đến góc đường Phan Đình Phùng – Lý Thái Tổ, xe xẹp bánh. Trời còn hơi sớm, phải dắt xe một đoạn mới có chỗ vá xe, sốt ruột nhìn đồng hồ… kiểu này thì trể thi mất, từ chỗ này lên đến Phú Thọ cũng phải mất gần nửa giờ. Xe sửa xong, lại nhìn đồng hồ, biết mình không tài nào lên Phú Thọ cho kịp giờ, đành phải đạp xe ngược lại trường Sư Phạm. Sao cái gì mình yêu thích cũng không nằm trong tầm tay của mình vậy không biết. Thôi thì cứ thuận theo “số mạng”. Nói vậy chớ tôi vẫn làm hết sức mình cho hai ngày thi.
Một hai tuần sau, có kết quả. Tôi chính thức bước vào Đại Học Sư Phạm khóa 9, hạng hai mươi trong tổng số  hơn ba mươi người trúng tuyển. Kể cũng lạ, trường dự tuyển bốn mươi sinh viên mà chỉ chấm đậu có hơn ba mươi người, nếu tôi nhớ không lầm thì con số đó là ba mươi hai, đủ biết ngày ấy tiêu chuẩn lựa chọn khe khắc tới mức nào. Ai cũng biết đó là thành quả của chính mình, không phải dựa cậy vào thế lực hay tiền bạc, ít nhất là trong trường hợp này. Kẻ có tiền và có quyền không muốn lựa chọn để làm thầy cô giáo, lương chỉ đủ sống và không có quyền thế trong cái xã hội thời bấy giờ. Kiết cũng đậu cán sự Hóa. Việc xin học bổng truyền hình cũng trôi mất sau buổi phỏng vấn.  Như vậy, coi như tôi đã chọn cho mình con đường đi không tính trước. Bạn bè, người thân ai cũng chúc mừng.  Tôi không tin vào số mạng, tử vi hay gì gì đó, nhưng trong cuộc đời có những dun rủi kỳ lạ
Như đã nói ở trên, sinh viên Sư Phạm được gởi sang học “nhờ” chương trình cử nhân bên Khoa Học, mỗi năm phải học hai chứng chỉ chuyên khoa (lúc đó hệ thống đại học Việt Nam còn ảnh hưởng của Pháp, chưa có chế độ tín chỉ), sao cho sau ba năm, khi tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, giáo sư trung học đệ nhị cấp có trình độ của cử nhân. Nói là có trình độ vì ở Sư Phạm, điều kiện để coi như qua được một chứng chỉ (nào đó) là phải đạt được chín phần mười của sinh viên Khoa Học. Nói cho dễ hiểu, chứng chỉ Lý Hóa 1 chẳng hạn, sinh viên Khoa Học phải đạt 10/20 mới được coi như đậu phần thi viết, nhưng sinh viên Sư Phạm chỉ cần 9/20 là được xem như đậu thi viết. Thành thử sau ba năm, sinh viên tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm có thể có luôn bằng cử nhân Khoa Học hay ít ra, sức cũng tương đương.  Hai trường Sư Phạm và Khoa Học đâu lưng vào nhau, sinh viên qua lại dễ dàng.
Chương trình học gồm đủ thành phần của cử nhân Khoa Học. Năm thứ nhất, Lý Hóa 1  và Cơ học Thuần Lý, năm thứ hai, Quang và Điện, năm thứ ba, Hóa Hữu cơ và Hóa Vô cơ. Ai nghĩ mình còn dư sức cứ ghi danh thêm các chứng chỉ khác. Ngoài thời gian phải học và thực tập bên Khoa Học, sinh viên Sư Phạm còn phải mất thêm một số thời gian cho ngàng sư phạm như Tâm Sinh Lý thanh thiếu niên, Tổ chức học đường, Sinh ngữ, Phương pháp soạn bài, giảng bài, các thí nghiệm trung học…nghĩa là trăm thứ lỉnh kỉnh của nghề sư phạm, từ cách cầm phấn viết bảng sao cho khỏi kêu cót két, đến việc vị trí của thày giáo trong lớp, ngay cả trang phục, ngôn ngữ của thầy cô giáo cũng được đề cập. Những giờ học này, bài ghi lý thuyết thì ít, nhưng thảo luận thì nhiều, tất nhiên theo chiều uốn nắn của giáo sư, khiến môn học luôn hấp dẫn và nhiều hứng khởi. Chẳng hạn, có một lần, trong giờ của Giáo Sư Dương Thiệu Tống, đề tài tranh luận sôi nổi về tình yêu nam nữ giữa thầy hay cô với trò đang học, buổi thảo luận sang đến buổi thứ ba mới đi tới kết luận. Tuy cách dạy và học ở đại học không có tính ràng buộc, điểm danh, nhưng những kết quả cuối năm của các bài thi các môn này cũng có một vị trí trong việc lên lớp, bên cạnh các chứng chỉ bên Khoa Học.
Năm thứ nhất, sinh viên Sư Phạm học Lý Hóa 1 (GS Chu Phạm Ngọc Sơn) và Cơ Học Thuần Lý (GS Từ Ngọc Tĩnh) bên Khoa Học. Lần đầu tiên tôi chạm mặt với giáo trình của các môn ban cử nhân. Nếu hồi còn ở dự bị, bài tuy có hơi lạ nếu so với trung học, nhưng xem ra vẫn là những cơ bản, thì bây giờ môn nào cũng được đào sâu. Giáo sư vào lớp là cứ thao thao giảng theo tốc độ của xe đua, bất cần sinh viên có theo kịp hay không, sinh viên chen chúc nhau trong giảng đường nóng nực ghi ghi, chép chép, chỗ được chỗ mất. Sách tham khảo thì hạn chế mà chờ bài giảng (in roneo, do sinh viên – mà tụi tôi gọi đùa là lái cour – ghi lại và đưa cho thầy kiểm trước khi in, rồi bán cho sinh viên) thì có khi cả một hai tuần sau mới có, mà không phải môn nào cũng có lái cour, như lớp Cơ Học Thuần Lý chẳng hạn.  Rõ ràng là phải nắm được căn bản của giáo trình, cộng với khả năng ghi bài nhanh và chính xác trong giờ học, chớ không mong gì học thuộc vì quá dài. Lý Hóa 1 mà tiền thân của nó là Hóa Lý dầy hơn sáu trăm trang roneo (tôi may mắn mua lại được một bộ cũ tới…ba năm – có còn hơn không !), Cơ học Thuần Lý gồm  hai cuốn hơn bốn trăm trang… bằng tiếng Pháp, mặc dù thầy giảng bằng tiếng Việt.  Bây giờ mới biết đá biết vàng trong cuộc vật lộn với tri thức. Về sau, khi ra trường đi dạy mới thấy, kiến thức phải học ở đại học nếu là mười thì dùng để đi dạy ở trung học chưa đến một.

Tình hình chính trị của miền Nam nhìn chung vẫn còn nhiều lộn xộn, nhưng ít nhiều nền nếp hơn. Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do các tướng lãnh quân đội cầm đầu đã giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch (vai trò như thủ tướng), thành lập nội các, quyết dẹp nạn đầu cơ, tham nhũng (?) tự mệnh danh là chính phủ của người nghèo. Kinh tế oằn oại dưới sự thao túng của người Hoa, nhất là về lúa gạo. Tướng Kỳ, với biệt danh Tướng Râu Kẽm, cho lập pháp trường cát, xử bắn Tạ Vinh sau một phiên tòa quân sự đặc biệt, Tạ Vinh là một thương gia cỡ lớn trong Chợ Lớn, chuyên đầu cơ sắt thép, vật tư xây dựng và cả lúa gạo. Kỳ muốn dằn mặt đám xì thẩu người Hoa. Họ chùn bước. Pháp trường cát được dựng ở bùng binh chợ Bến Thành, dựa lưng vào trụ sở của Hỏa Xa Việt Nam. Biện pháp đó làm tình hình kinh tế dịu lại phần nào, dân chúng hả hê, nhưng cũng gặp không ít những phản ứng bất lợi về phía báo chí, thông tấn nước ngoài. Nhưng cũng nhờ vậy những lộn xộn ở các sân trường đại học cũng giảm nhiệt theo.
Cuối năm, tôi chỉ đậu được chứng chỉ Lý Hóa 1, rớt Cơ học. Góp đơn thi kỳ nhì (vào khoảng cuối tháng Tám) cũng không đủ điểm, giáo sư Tĩnh không chấp nhận điểm có tính khoan nhượng cho sinh viên sư phạm (9/10 số điểm chính thức). Với ông, chỉ có rớt hay đậu. Có người chỉ thiếu nửa điểm, xin ông cho vào vấn đáp, ông cười khẩy trả lời: vào vấn đáp tôi vẫn sẽ đánh rớt anh. Sinh viên năm đó rớt hơn phân nửa sĩ số của lớp, Giáo Sư Lý Công Cẩn phụ trách phần khoa học của trường Sư Phạm, xin gặp Giáo Sư Tĩnh để thương lượng, ông không muốn tiếp, bắt phải chờ... Đám sinh viên không may mắn, trong đó có tôi, đứng lóng ngóng bên ngoài, mong chờ phép lạ. Nhưng xem chừng lời nói của giáo sư Cẩn không đủ trọng lượng và uy tín để giáo sư Tĩnh nao lòng, đổi ý… Mười mấy thằng cay đắng ngậm ngùi học lại năm thứ nhất. Năm sau, 1967-1968, số được lên lớp, cộng với số sinh viên của năm trước còn sót lại, trường có được khoảng hơn hai mươi sinh viên cho năm thứ hai. Trường lại tuyển thêm sinh viên mới cho năm thứ nhất, cộng với đám tụi tôi ở lại, năm thứ nhất lại có gần bốn mươi sinh viên. Như vậy tôi mất hai năm học cho năm thứ nhất (66/67 và 67/68). 
Năm học sau, Sư Phạm kiềng mặt giáo sư Tĩnh, bỏ luôn Chứng chỉ Cơ học Thuần Lý và thay bằng chứng chỉ Toán Thuật trong Vật Lý, thường được gọi tắt là TMP (Technique Mathématique dans Physique), hồi trước có tên là Phương Pháp Toán Trong Vật Lý thường được gọi là MMP (Methode Mathematique dans Physique), học hai môn Giải Tích (Thầy Hoàng Mạnh Để) và Đại số (Thầy Lâm Lý Hùng). Vì đã có chứng chỉ Lý Hóa 1, tôi và một số bạn chỉ phải học TMP, nhưng lại mất học bổng một ngàn một tháng.
Năm đó, lớp TMP chỉ có chừng tám mươi sinh viên mà non phân nửa là của Sư Phạm, số bạn mới vào năm thứ nhất bận bịu với hai chứng chỉ bên Khoa học, thêm các giờ chuyên về sư phạm nên khó điều tiết giờ dự lớp ở TMP, học bữa được bữa mất, số ở lại như chúng tôi chỉ học một môn nên rộng thì giờ, bạn bè đề nghị tôi làm “lái” cour TMP.  À, nghe cũng có lý, chỉ cần lên lớp đều đặn, ghi chép cẩn thận, đối chiếu với bài học của những năm trước, đưa cho thầy kiểm trước, rồi đưa đi đánh máy, in, công việc có phần thích thú lại có thêm thu nhập.  Cái khó là tìm cho được nơi đánh máy giỏi và biết ít nhiều về các ký hiệu toán học, để viết bằng tay trên stencil. Tất nhiên tôi phải đọc trước, sửa chữa những chỗ viết sai, vẽ thêm hình, đồ thị… nói chung là làm những gì máy chữ không làm được. Cour của TMP có lẽ là mắc nhất vì không đông sinh viên, công đánh máy cao (cần người có ít nhiều kiến thức toán) nhưng tôi vẫn kiếm được tiền nhờ công việc này, vì gần như tất cả sinh viên Sư Phạm ủng hộ, các bạn bên Khoa học cũng hưởng ứng. Vả lại, việc này giúp tôi rất nhiều: ghi chép cẩn thận bài giảng, đọc và viết lại, nộp cho thầy, viết lại nếu cần rồi đưa đánh máy, đọc lại lần chót, sửa chữa cuối cùng… trước khi đưa in; tính ra, một bài học tôi phải đọc đi đọc lại , viết đi viết lại bốn năm lần, xem chừng không ai  “học” kỹ bằng tôi.  Lợi trăm bề!
Bây giờ tôi đã hoàn toàn tự túc ở Saigon, không dựa vào gia đình nữa. Thuận, một người bạn trong hướng đạo rủ tôi về ở chung. Thuận sống với gia đình, tương đối khá giả, có cả phòng riêng cạnh phòng ông ngoại của Thuận vì Thuận là người trực tiếp chăm sóc cho ông. Gia đình cho tôi sống ở đó với Thuận, cùng nhau học hành. Tôi vẫn ăn uống bên ngoài, nay bình dân, lề đường, mai quán cơm xã hội, cứ tùy theo túi tiền và sự thuận tiện. Thuận cũng học Khoa học,  dự bị SPCN, rất chuyên cần, thi đậu ngay năm đầu, bây giờ đang học chuyên khoa về địa chất.  Ba má Thuận ngày trước đi kháng chiến nhưng bỏ về thành, làm chủ một tờ tuần báo, tờ Chân Trời Mới. Thuận chỉ  cho tôi cách sửa morasse trên bản vỗ nháp trước khi báo lên khuôn. Nhà Thuận trên đường Huỳnh Quang Tiên mà nhà in trên đường Cô Giang, tại góc đường có một chỗ chơi bi-da bàn, hai đứa tuần nào cũng ghé, khi đi giao bản sửa cho nhà in. Ở đó Thuận tập cho tôi hút thuốc, lần đầu tôi hút thử Salem, chỉ là thứ nhẹ hều thơm mùi bạc hà, mà sặc lên sặc xuống. Dầu vậy, lâu dần cũng quen, buổi nào chơi bi-da, thế nào cũng hút một hai điếu, uống một ly cà phê đá, tôi bắt đầu làm quen với những thú của thanh niên thời đại đó.
Ngoài số sinh viên học lại năm thứ nhất, tôi có thêm một số bạn mới vào sư phạm, xem chừng thân thiết hơn các bạn năm cũ, gắn bó với nhau vì gần như gặp gỡ hàng ngày. Vân từ Long An, Chiêu Minh từ Rạch Giá, Sơn từ Nha Trang, Khương, Tạo ở Saigon. Lúc này anh chị tôi đã vào Saigon, tôi từ giả Thuận, về sống với anh chị, trên đường Dương Bá Trạc, Rạch Ông. Nhà mướn vách gạch, mái tôn chỉ đủ chỗ cho năm người gồm anh chị và tôi với hai cháu nhỏ. Lương của anh ở Dennis Frères khá hơn nhiều so với thời dạy theo khế ước trước kia.  Anh tôi có một chiếc gắn máy hiệu Goebel để làm chân, còn tôi vẫn miệt mài với chiếc xe đạp cũ rích, không vè, không thắng, không có cả cạt-te, đạp xe lúc nào cũng phải coi chừng để ống quần không phải bị cuốn vào dây sên… lúc đó Saigon đã bắt đầu nhập xe gắn máy của Nhật, và thị dân Saigon có chút tiền bạc cũng đã theo kịp thời đại, sắm một chiếc, sang thì Honda, tệ một chút thì Kawasaki.
Sơn ở tỉnh vào học ở Saigon, được cấp phòng ở Đại học xá Minh Mạng, sách vở của nhiều lớp đàn anh đã tốt nghiệp để lại rất nhiều, nhất là những cour roneo, tôi vẫn thường xuống đó ăn giầm nằm giề, và học “ké”. Nhà bếp của Đại học xá được gọi là foyer (lúc đó không gọi là cantin như sau này) dành cho sinh viên do nhà thầu trông coi, nhưng thức ăn lại được nhà nước thường xuyên kiểm soát nên rất có chất lượng, muốn có phần ăn phải mua vé ăn trước cả tuần có in ngày, không dùng coi như mất và họ chỉ bán cho sinh viên trong Đại học xá, thỉnh thoàng mỗi phòng lại được phát một hai ổ bánh mì cỡ lớn, cũng đỡ dạ cho sinh viên lúc học khuya. Phòng học dành cho sinh viên rộng rãi và yên tĩnh, mở cửa suốt hai mươi bốn giờ, quạt trần quay suốt ngày, bất kể lúc nào cũng có mấy con mọt sách cắm đầu vào sách vở. 
Nói vậy nghe thì hay, chớ Đại học xá cũng là tổ quỷ, ở đó chỉ có nam sinh viên sống, thỉnh thoảng họ đưa bò lạc vào trốn trong đó và hành lạc tập thể, hoặc tụ tập đánh bài thâu đêm suốt sáng, ngày này qua ngày kia (thường là binh xập xám) Đại học xá cũng là nơi dung thân khá an toàn của đám sinh viên thân Cộng, chuyên xách động dưới chiêu bài của sinh viên hợp pháp...
Có thể nói, Đại học xá Minh Mạng là lò luyện thép mà cũng là lò thiêu thân xác và tinh thần của sinh viên, đó là nơi có thể giúp sinh viên trở thành siêu nhân hay biến họ thành ác quỷ. Cuối mỗi năm học, sinh viên phải có giấy chứng nhận có đủ sức khỏe để dự thi do bác sĩ của Ty Y Tế Sinh viên cấp, không ít sinh viên ở Đại học xá bị cấm thi và bắt phải nằm bệnh viện Hồng Bàng (bệnh viện lao) vì học nhiều mà dinh dưỡng kém hay phải đi điều trị ở bệnh viện hoa liễu do chơi bời, mắc các bịnh phong tình. Thời đó sinh viên ở Đại học xá mục kích một chuyện tình bi, hài, họ đặt cho một cái tên nghe rất trữ tình “Áo Tím yểm Đại Học Xá”.
Chẳng là có một chàng, cuối năm khám sức khỏe, phim phổi cho thấy phổi bị nám, bác sĩ bắt phải nằm điều trị ở bệnh viện Hồng Bàng. Không biết vì cô đơn hay vì tác dụng phụ của thuốc điều trị, anh ta qua lại, gần gủi với một nữ y tá, hẹn hò thề thốt đủ thứ. Hết bệnh, anh ta trở về Đại học xá, không nhớ hay muốn quên người tình một thời. Cô y tá có vẻ lớn tuổi hơn, không đẹp, suốt bao ngày chờ chực, mong ngóng người tình trước cửa, cuối cùng cũng nhận ra sự phụ bạc của chàng. Mỗi buổi sáng, nàng mặc chiếc áo dài màu tím (chắc ngày xưa hai người có kỷ niệm với màu tím này) đứng đợi chàng ở cổng Đại học xá. Thông thường, cổng chỉ mở một cửa nhỏ bên cạnh cổng lớn, xe gắn máy phải chầm chậm ra vào từng chiếc một. Nàng cứ chờ, cho đến khi chàng đi ra, khệnh cho một cán dù vào đầu. Ngày nào cũng vậy, chàng cũng cam chịu như một hành động sám hối của mình, không dám oán trách cô y tá lụy tình. Vả lại, không chịu cũng không được, chẳng lẽ cứ trốn trong phòng, ngày này qua ngày kia?
Ở Đại học xá Minh Mạng có rất nhiều chuyện vui, chuyện buồn, có nhiều người đói mờ mắt vì không có tiền mua vé cơm, buổi chiều ngồi dài ở sân bóng chuyền, chờ tên nào đi chơi với đào, hay được mời ăn cơm khách, không dùng vé cơm, đưa lên vẫy vẫy, hỏi: có thằng nào cần vé cơm? là có dăm ba cánh tay đưa lên: tao, tao; Ở đó phơi cái khăn mặt hay cái quần lót ngoài trời phải ngồi canh chừng, nếu không sẽ thấy nó thành nùi giẻ chùi xe của một tên ẩu tả nào đó; Ở đó cũng phải dặn bạn gái đừng đến tìm, hoặc có đến phải đưa đi chỗ khác ngay, vì nếu ngồi trong phòng tiếp khách, thế nào cũng có thằng thò đầu vào hỏi: Ê, hôm qua mượn chai thuốc xức lác của tao rồi mày để đâu? Ở đó cũng là nơi xuất phát của mấy cuộc xung đột với cảnh sát và là nơi ăn lựu đạn cay mệt nghỉ vì chỉ có một cổng ra vào dễ bị phong tỏa, chỉ cần một nhóm nào đó hô đả đảo cái gì đó thì chỉ một lúc sau đã thấy cảnh sát đến, và tuyệt vời nhất, ở đó người sinh viên sống không bị ràng buộc vào điều gì trừ ý chí của mình ... Đủ mọi thứ dung tục của cuộc đời trong Đại học xá!
Vân từ Rạch Kiến, Long An lên Saigon ở trọ học. Suốt ngày lê la với tôi, cùng học bài, làm bài. Vài tuần mới về quê một lần để mang thêm tiếp tế. Thích nhất là mỗi lần ở quê lên, hắn mang theo trái cây, mùa nào thức ấy, hai đứa ăn thỏa thích. Ăn không xuể, mang xuống Sơn, hú một tiếng, có bao nhiêu cũng hết. Tánh Vân hiền lành, có phần hơi chậm, nhưng chí tình với anh em. Rạch Kiến lúc đó là vùng xôi đậu, tuy không xa Saigon, nhưng chúng tôi xuống chơi chỉ sáng đi chiều về, không dám ở qua đêm.  Gần cuối năm thứ ba, Vân lập gia đình, tôi và Khương làm phù rể cho nó, về Rạch Kiến rước dâu, nó bảo đảm an ninh cho đám sinh viên từ Saigon. Về sau mới biết, gia đình Vân có “liên hệ” với cả hai bên.  Tạo cũng lập gia đình với một sinh viên Luật, nhờ tôi tổ chức một tiệc ngọt để đãi bạn bè của cô dâu, chú rễ. Tôi mượn câu lạc bộ của trường, trang trí cho đẹp, làm nơi tiếp đãi. Tôi sinh hoạt trong hướng đạo, anh em đề nghị làm quản trò (hoạt náo viên) cho tiệc cưới, “phá” cô dâu chú rễ một bữa ra trò. Chiêu Minh có gia đình chuyên làm nước mắm ở Phú Quốc, nhưng học trung học ở Rạch Giá hay Long Xuyên, ở Saigon với gia đình người chị cạnh Chợ Lớn, trên đường ra Phú Lâm, làm đại lý bán nước mắm Phú Quốc. Nhà Khương thuộc họ đạo Tân Định, Mẹ Khương theo Công Giáo, rất thương tụi tôi, bà xem tôi như con. Về sau, khi kết hôn tôi nhờ Bà làm đại diện cho đàng trai và là người chứng cho tôi ở nhà thờ Huyện Sĩ. Tình bạn thân thiết giữa chúng tôi bền chặt suốt ba năm bên nhau, cùng thăng trầm theo thời gian, cho mãi đến bây giờ, sau gần năm mươi năm, tình bạn vẫn còn, mỗi lần tôi về Việt Nam là tìm cách gặp mặt.
Cũng trong niên khóa 1967-1968 đó, sắc luật tổng động viên ban hành, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, kể cả đại học tư, được miễn dịch vì lý do học vấn, nhưng cuối năm phải lên lớp, hay đậu hai chứng chỉ chuyên khoa hay đậu đủ số tín chỉ của học trình cử nhân (lúc đó Đại Học Vạn Hạnh của Thày Thích Minh Châu đã theo chế độ tín chỉ), không đạt được điều này là mất hoãn dịch, sẽ bị gọi nhập ngũ, học ở Bộ Binh Thủ Đức. Cho nên tên nào cũng học chết bỏ. Năm đó Loan cũng tốt nghiệp sư phạm cấp tốc và đi dạy ở Xuyên Mộc (Bà Rịa) một địa danh tôi biết tên nhưng chưa từng đi tới. Tôi thì  cắm đầu học vì cái búa bị động viên đi Thủ Đức nếu không lên lớp, lúc nào cũng lơ lửng trên đầu. Chúng tôi không còn dịp gặp nhau như ngày xưa, chỉ thỉnh thoảng nàng về Saigon chơi, ghé hội quán của đạo Bình Than, nằm trên đường Trần Bình Trọng (cũng là nhà của anh Đạo Trưởng) chúng tôi mới gặp nhau, uống với nhau ly cà phê và vẫn nói chuyện mông lung, không chủ đích. Ra đời rồi, nàng có vẻ đỏm đáng hơn, trang điểm hơi đậm, quần áo cũng màu mè hơn, tôi cảm thấy như đánh mất cái gì quen thuộc từ Loan. Có lần, nhân chỉ có hai đứa ngồi với nhau, tôi nói về sự thay đổi quá nhanh và trách có lẽ nàng đã quên (hay muốn quên) thời còn hàn vi của vài năm trước. Loan chỉ gượng cười nói: Thạnh chú ý chi đến việc trang điểm, phục sức của con gái. Tuy nhận rằng nàng nói có phần đúng nhưng tôi chỉ buồn rầu nghĩ thầm Loan đã tự đánh mất hình ảnh tôi đã có về nàng từ trước. Tự nhủ sẽ không nói về chuyện này với Loan nữa, và có lẽ vì vậy mà tôi không còn mấy hứng thú gặp gỡ, nói chuyện, dù bây giờ, những cơ hội đó không còn nhiều nữa, chắc là tôi khe khắc quá… Lại một lần nữa, tôi lại tập trung vào mục tiêu chính là học tập.
Không khí chính trị ở Saigon lúc đó không có vẻ êm đềm gì cho lắm. Những tin tức, hình ảnh về chiến tranh vẫn xuất hiện thường trực trên báo chí, TV, radio
Một người bạn, Võ Ba, cũng học khoa học, cùng quê với tôi, cùng tuổi học chung thời tiểu học, chỉ dưới một lớp vì đi học trể hơn một năm, thường vẫn cùng nhau đi bộ từ nhà đến trường Trung Học Bán Công Phan Rí Cửa.  Lên trung học đệ nhị cấp anh lại là học sinh của anh tôi ở Phan Bội Châu, lúc anh tôi còn dạy Pháp Văn ở đó. Bây giờ anh ta đang theo đuổi chương trình cử nhân Hóa. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau trong sân trường, vẫn bá vai nhau đi uống cà phê, nói chuyện chính trị, thời sự. Anh có vẻ như dấn thân hơn, tham gia có phần tích cực vào các sinh hoạt phản đối chính quyền của Phật Giáo, tuy vậy anh không hề hé lộ những hoạt động của anh và cũng không rủ rê tôi tham gia vào các hoạt động của anh. Tôi chỉ xem anh như người bạn từ hồi niên thiếu, thỉnh thoảng anh cũng qua nhà thăm anh tôi là thầy cũ. Tôi cũng thường ghé qua nhà của anh trong hẽm trên đường Lý Thái Tổ, sau nhà thờ Bắc Hà, gần chợ cá Trần Quốc Toản…
Cho đến một ngày…
Sau buổi cơm tối, tôi và anh tôi đang đứng xem TV, chương trình thời sự trong ngày, xướng ngôn viên đang nói về phiên tòa xử trắng án hai mươi sinh viên. Các bị cáo bị tra khảo lê lết dìu nhau  ra tòa vì bị tình nghi là hoạt động nội thành cho Việt cộng. Tòa tha bổng vì không đủ chứng cớ. Trong số đó có Võ Ba. Số sinh viên này được tổng hội sinh viên bảo lãnh về tịnh dưỡng ở Đại Học Dược Khoa, đối diện với Văn Khoa. Ở đó họ được bảo vệ chặt chẽ bỡi những sinh viên chống chính quyền, cũng ở đó hàng ngày nảy sinh xô xát giữa lực lượng chống cộng trong hàng ngũ sinh viên với nhóm trên… và mỗi lần có xô xát là có sự can thiệp bằng lựu đạn cay của cảnh sát dã chiến.  Ít lâu sau, khi anh về nhà, tôi lại nghe tin anh bị bắt lại trong lúc đang gần các kỳ thi của các chứng chỉ cuối niên khóa. Vợ Võ Ba nhờ tôi lãnh những bài học anh đã dặt mua của chứng chỉ Hóa Hữu Cơ II, chị gửi vào tù để anh học thi. Cuối năm anh xin đặc cách dự thi, được chấp nhận, anh đậu phần thi viết, sau đó làm đơn xin bảo lưu kết quả, chờ mãn hạn tù về thi phần thực tập.
Tôi kể chuyện này, và một chuyện khác tôi biết rõ về sau khi dạy ở Tống Phước Hiệp, một học sinh, cha đi theo Việt cộng, mẹ về thành sống chấp nối với một cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, thi vào Sư Phạm Vĩnh Long, bên an ninh của tỉnh biết cha ruột của em đang là huyện ủy của một huyện trong tỉnh, nhưng vẫn chấp thuận cho em theo học đến tốt nghiệp và được bổ nhiệm. Những chuyện này cho thấy thời Việt Nam Cộng Hòa, người ta không chú ý nhiều lắm về lý lịch ba đời như sau này. Ai có khả năng đều được đào tạo một cách bình đẳng, miễn đừng tham gia chính trị, chống chính quyền, hoạt động cho Mật trận Giải Phóng

Wednesday, November 1, 2017



Kể Chuyện Làng Quê
 Hòa Đa



Tôi sinh ra ở một xóm nhỏ ngay cạnh tỉnh lỵ Phan Rang nhưng đến năm ba tuổi gia đình chuyển về sinh sống ở một làng nhỏ phía bắc Bình Thuận, tôi lớn lên ở đó. Làng tôi nằm trên quốc lộ 1 xuyên Việt trên một giải đồng bằng hẹp. Tuổi thơ chỉ gồm những trưa hè gánh nước trên những con đường ngoằn nghèo quanh xóm đầy cát lún, hay cùng đám bạn đồng lứa nô đùa, la hét trong dòng sông.  Con sông Lũy chảy song song với quốc lộ, cạn nước gần như sát đáy vào mùa khô và hung dữ tràn bờ cuốn phăng những gì nó gặp trên đường đi vào mùa nước đổ... Xa xa là những chỏm núi đá cuối cùng của dãy Trường Sơn, đứng cô độc giữa bình nguyên chật hẹp, không có vẻ gì là hùng vĩ của núi non.  Khí hậu khắc nghiệt, chỉ gồm hai mùa mưa nắng.  Quận lỵ nằm cạnh đó với tất cả những cơ ngơi của các văn phòng hánh chánh, bưu điện, nhà thương... Nhưng cái gì cũng mang vẻ nghèo nàn, xốc xếch.

Dân làng, hầu hết sông bằng nghề ruộng rẫy, hay buôn bán nhỏ, căn bản dựa vào nông sản tại chỗ và hải sản từ một thị trấn cạnh bờ biển gần đó, Phan Rí Cửa.  Người lớn ai cũng đầy vẻ khắc khổ vì phải tranh sống.  Giải trí vui chơi, có họa chăng là các ngày lễ Tết, hay năm khi mười họa mới có một gánh cải lương lưu diễn tập tuồng, ghé lại thị trấn; rồi cũng không nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của cư dân trong làng, vài hôm sau lại lẳng lặng dọn đi, trả lại cho dân làng cái quạnh quẻ cố hữu.  Cũng thỉnh thoảng có vài nhóm bán dạo, kiểu sơn đông mãi võ, vừa bán hàng vừa phụ diễn văn nghệ hay ảo thuật,  cái này thì hấp dẫn bọn con nít chúng tôi hơn người lớn, nên cũng chỉ được vài hôm... Dạng giải trí thường gặp nhất là những buổi chiếu phim ngoài trời do phòng thông tin quận tổ chức mà bao giờ cũng bắt đầu bằng lễ chào quốc kỳ và suy tôn Ngô tổng thống.  Tôi không nhớ người lớn giải trí một cách đông đảo bằng cách nào, có lẽ cuộc vui thu hút được bà con nhiều nhất la cái máy hát quay tay.  Những buổi tối có trăng, gần như cả xóm tụ tập ở sân sau nhà chú Ba, cách nhà tôi một căn, nghe say sưa mấy tuồng cải lương thu trên dĩa đá.  Kim chạy dĩa là loại kim sắt, mỗi mặt dĩa thay một kim, kim cũ cũng được cất lại phòng hờ. Tuồng hát cũ mèm mà vẫn được chiếu cố, vở tuồng được yêu cầu cho nghe nhiều nhất mà tôi còn nhớ là các tuồng San Hậu, Tô Ánh Nguyệt...

Cuộc sống quá cơ cực làm người lớn không có hứng thú gì trong việc giải trí. Có chăng là vào dịp Tết, họ quần năm tụm bảy sát phạt nhau.  Người bình dân thì chơi bầu cua cá cọp, sóc dĩa, bài cào... các bà thì rủ nhau gầy sòng tứ sắc. Có "văn hóa" hơn một chút là các ông tụ nhau đổ tam hường, giựt trạng em, trạng anh. Theo lời người lớn kể lại thì cuộc chơi bình dân được quần chúng tham gia nhiệt tình trong các ngày Tết là các sòng bài chòi, ở đó có trống có mõ, có hò có ca... Bài chòi phát xuất từ vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.  Các chòi chơi cất trên một bãi đất trống, thường được dựng khá chắc chắn để chơi trong ba ngày Tết. Người có tiền thì lên chòi ngồi chơi, người không tiền thì đứng vây quanh nghe hò bài chòi và bàn luận... chỉ tiếc là cách chơi phức tạp và chỉ hấp dẫn khi những người hò bài chòi có giọng tốt và sáng tạo, nên dần dần cũng mai một, không có sức sống như các điệu hát chèo, quan họ ở ngoài Bắc, hay điệu vọng cổ, các điệu ca trong cải lương ở miền Nam. Một cuộc chơi khác, tương đối cũng hấp dẫn giới bình dân là chơi lô-tô (giống như "bingo" ở Mỹ), trò chơi này cũng tùy thuộc vào người hô. Họ đọc có câu có kệ, nghe có vần có điệu. Người chơi trước thỏa máu đỏ đen, sau có vài phút giải trí dễ dãi:



Tôi xóc tôi móc, con cờ bằng cây, con gì nó ra đây?

            - Nước chảy bon bon, dắt mẹ bồng con, lên non hái trái, cảm thương nàng, phận gái mồ côi, số một (1) ôi, là con số một.

            - Chị bảy ăn trầu bô bô, cái miệng thì xỉa thuốc, việc làm trật vuột, làm biếng làm nhác, tối thì coi hát, sáng ngủ dậy cho trưa, đổ thừa cho con bú, cái mặt sù sụ, cái đầu chôm bôm, xuống bếp lục cơm, lên giàn bốc cá, chồng thấy chồng đánh, đâm đầu nhảy sải, con bảy mươi bảy (77) là con bảy mươi bảy, con gì nó tiếp theo?....



            Người lớn ai cũng phải làm lụng vô cùng cực nhọc.  Đất thiếu màu mỡ, nhiều cát, nên ruộng không có năng suất cao, hơn nữa vì gần biển nên nước sông bị nhiễm mặn gần như quanh năm, ruộng chỉ nhờ vào nguồn nước mưa. Năm nào mưa thuận thì còn đỡ, năm nào hạn hán hay mưa bão dầm dề thì trăm đường cơ cực. Hoa màu phụ cũng là một nguồn lợi tức quan trọng cho người sản xuất lẫn người bán lẻ. Những rẫy hoa màu nằm phần lớn bên kia sông, bên động cát, loại cát có pha đất thịt, nơi có nhiều mạch nước ngọt để tưới, người dân tận dụng từng vạt đất nhỏ để trồng, mùa nào thức đó. Hoa lợi thu được đem tiêu thụ ở chợ.  Một nghề chính, nhưng chỉ sinh hoạt trong mùa nắng, là tráng bánh. Có cả nguyên một xóm chuyên nghề này được gọi là Xóm Bánh Tráng.  Vào trong xóm vào mùa tráng bánh, ở đâu người ta cũng gặp những vĩ tre phơi bánh, không phải là loại bánh nhỏ, mà là những bánh lớn, có đường kính chừng 40 - 50 cm, mỏng có, dày có; loại bánh dày rắc đầy mè, nướng trên than hồng, nở ra, cong vòng, vàng lườm và thơm phức, ăn với mắm ruốc giầm ớt cho thiệt cay là hết sẩy...  Tất nhiên, bánh làm ra không thể tiêu thụ hết ở địa phương, họ bán cho những mối thu mua chở đi bán ở Phan Thiết hay Sài Gòn. Sự giao lưu về hàng hóa lúc bấy giờ dựa vào đường xe lửa xuyên Việt.  Ga Sông Mao nằm về phía tây nam quận lỵ và cách đó chừng 10 km. 

            Vùng quê tôi không có những đồi cát hùng vĩ như Mũi Né, nơi đã có diễm phúc được ghi vào ống kính của các nhiếp ảnh gia tên tuổi, nhưng quê tôi cũng có những vùng toàn là cát, loại cát mủn, màu ngà ngà vì lẫn quá nhiều thứ rác bẩn.  Người dân ai cũng biết gánh, đòn gánh không phải làm bằng tre như ở miền Nam mà làm bằng gỗ một loại cây rừng có tên là cây sò đo, có khắc mấu ở hai đầu. So với tre, đòn gánh sò đo dẻo và chịu được trọng lượng ở hai đầu rất lớn, lên đến 60 - 70 kg. Đòn gánh loại này thông dụng ở vùng Phan Rí, Phan Thiết, Bình Tuy. Có thể nói không ngoa là người dân vùng này lớn lên với cây đòn gánh trên vai. Từ Phan Rang trở ra, đòn gánh được làm bằng tre, giống như trong Nam, hoặc bằng cây săng có hai mấu sắt ở hai đầu. Ở Phan Rang có câu hát:

                                   

            Đôi gióng đứt trôn, bỏ đôi rổ bơ thờ,

            Đòn gánh kia có gảy thì còn chờ mụt măng,

                        Em có chồng, như cá vào đăng,

            Ra vô không có đặng, nói năng uổng lời.

           

            Tuy cuộc sống có vẻ cực khổ như vậy, trẻ con chúng tôi đứa nào cũng được đi học. Tôi không nhớ có đứa nào trong khoảng tuổi tôi mà không được cho đi học. Trải dài theo quốc lộ 1 non ba cây số, nhà cửa dân chúng phần lớn tập trung ở hai bên con lộ chính này, chia thành ba làng, sâu hơn vào phía trong là một làng của người Chàm, làng Hậu Quách, họ sống riêng biệt với gia súc của họ trong một ngôi làng có tre, me keo và xương rồng rào kín chung quanh, sống bằng nghề nông và chăn nuôi. Tuy vậy, họ không hoàn toàn cô lập với người Việt quanh đó, họ cũng đến chợ mua bán, giao dịch. Họ đi chợ bằng xe bò hay đi bộ với hàng hóa trong thúng đội trên đầu. Tuy văn hóa và tín ngưỡng khác nhau, nhưng người Chàm và người Việt sống với nhau rất hòa thuận, không có những mâu thuẫn đi đến xô xát với nhau như giữa người Việt và người Miên thỉnh thoảng vẫn xảy ra ở Nam Bộ.
Trường Tiểu học Hòa Đa (sân trước)
Sân Sau
  


 Quận lỵ Hòa Đa đóng trên địa bàn của làng giữa, làng Thoại Thủy và do đó trường tiểu học, mang tên Trường Tiểu Học Hòa Đa, cũng nằm ở đó.  Bây giờ tôi không còn nhớ rõ trường có bao nhiêu phòng học, nhưng là một cơ ngơi rộng rãi, vững chắc, xây gạch lợp ngói trên một nền cao ngang bụng, lót gạch tàu hay tráng xi măng.  Năm tôi học lớp Nhất (lớp năm bây giờ) trường đã có hai lớp Nhất A và Nhất B, với sĩ số mỗi lớp chừng 30- 40 học sinh, mà số nữ sinh trong lớp không ít.  Tính ra số học sinh học hết tiểu học lúc đó (1957) trong vùng không phải là nhỏ. Ngay cả người Chàm cũng gửi con em của họ đến trường học chung với trẻ em Việt Nam.  Hiện tượng này cũng dễ giải thích: công việc không đủ cho người lớn, thì có đâu cho trẻ con.  Để chúng lêu lổng ở nhà sao bằng cứ gửi chúng đến trường, chỉ tốn chút tiền sách vở, bút mực... may thì lớn lên có chút chữ nghĩa, kiếm được việc làm khá hơn, thoát khỏi cảnh khốn cùng, còn không thì ít ra cũng không lâm cảnh dốt nát.  Uy tín của thầy giáo rất lớn, được phụ huynh kính nể và học sinh vâng lời. Dọa một đứa trẻ mà hăm mét với cha mẹ chúng, không có tác dụng bằng hăm mét với thầy giáo. Câu mắng "Thầy giáo mày không biết dạy!"  là một câu mắng rất nặng.  Vào khoảng đó, trong làng có một ông Thầy, thường được gọi là thầy Năm De, mở một trường tư nhỏ (dạy tại nhà) đến lớp ba. Trò nào làm biếng không đến lớp, cha mẹ đánh đến cách mấy cũng không chịu đi, thầy cho học trò đến nhà cùng với một đoạn dây thừng và bảo:" Thầy kêu mày đi học kìa"  thế là cậu líu ríu theo đến lớp, đủ biết uy của thầy giáo lớn đến mức nào! Thầy dạy theo phương pháp riêng, học chữ cái không theo thông lệ a, b, c mà thầy ghép chữ thành vần theo kiểu trong kháng chiến, dễ học, dễ nhớ:"i tờ (t) tờ i ti, i u mờ (m) mờ i mi...  Chì cần học với thầy chừng hai ba tuần là có thể nhận được đủ mặt chữ cái, ghép được vần xuôi. Cũng có đứa, vì hoàn cảnh gia đình, nghỉ học sớm, nhưng ít ra cũng đã biết đọc biết viết thành thạo, tỉ lệ thất học rất thấp. Ngay cả người lớn, số người hoàn toàn mù chữ chiếm một số rất nhỏ.  Tôi biết chắc như thế, vì thỉnh thoảng chính quyền vẫn tổ chức những buổi "đón chợ, đố chữ": học sinh chúng tôi được chia thành nhiều tốp, chăng dây chận hết các ngõ, ai muốn vào chợ phải đọc được một chữ do chúng tôi viết trên bảng đá... và tôi nhớ là không mấy người bị mời về vì không đọc được chữ.  Trong làng, số người lớn có bằng "primaire" (bằng tiểu học thời Pháp) không phải là ít. Họ đọc và nói trôi chảy tiếng Pháp, tất nhiên chữ quốc ngữ họ cũng thành thạo.  Họ là những người được dân trong làng kính nể, nhờ vả những khi cần làm đơn từ giao tiếp với chính quyền.  Trong làng cũng có một ngôi chùa, tên chữ là gì tôi không biết, nhưng vẫn thường được gọi là chùa Phật Học.  Chùa nằm trên một khoảng đất rất rộng, quay mặt ra đường lộ, sân sau chùa tiếp giáp với bờ sông, trong sân chùa còn nguyên cả những cây cổ thụ.  Mấy vị sư trong chùa đọc được chữ Nho, coi được sách bằng chữ Hán, biết ngày tốt, tháng kỵ; tuổi khắc, tuổi hạp... là chỗ dựa cho dân làng vào những dịp ma chay, hiếu hỉ, động đất, cất nhà, khai trương, xuất hành... Cũng có hẳn một ngôi chùa của người Hoa, thờ bà Thiên Hậu, thường vẫn được gọi là chùa Bà, ở cách đó không xa.  Ngày rằm, ngày vía thiện nam tín nữ, không phân biệt Việt, Hoa tấp nập viếng chùa, xin xâm, hương khói nghi ngút.  Trong thị trấn cũng đã có một ngôi nhà thờ Thiên Chúa nhỏ và một nhà thờ Tin Lành. Sinh hoạt của các nhà thờ này tuy được chính quyền hổ trợ mạnh mẽ nhưng cũng chỉ giới hạn trong vòng giáo hữu còn rất khiêm nhường quanh đó, hầu hết là đồng bào di cư từ ngoài Bắc, hồi 54.  Lúc nhỏ, tụi tôi sợ ông Cha ở nhà thờ, một phần vì chiếc áo chùng màu đen, phần khác vì tuổi nhỏ tụi tôi ưa phá phách, trửng giởn... ông Cha không thích.  Đối với tụi tôi, Thầy ở Chùa có vẻ hiền hơn Cha ở Nhà Thờ.

Nhà Thờ


            Trước tôi vài năm, khoảng trước 1956 sau khi xong tiểu học, học sinh phải đi xa, hoặc về tỉnh lỵ Phan Thiết; hoặc vào Sài Gòn để học tiếp trung học.  Đây là một trở ngại lớn cho những gia đình nghèo khó, nên có thể nói hơn 90% ngừng lại ở Tiểu học. Đi Phan Thiết còn đỡ, đi học ở Sài Gòn chẳng khác gì sau này người ta du học bên Pháp, tuy thủ tục không có gì khó khăn nhưng chỉ những nhà có tiền hay có thế lực mới có khả năng cho con đi học ở Sài Gòn. Chúng tôi may mắn hơn, một năm trước khi tôi lên trung học, một nhân sĩ trong vùng xin mở được một trường Trung Học Đệ Nhất Cấp, nằm trên địa bàn xã Phan Rí Cửa (xã trù phú và đông dân nhất của Quận).  Thế là trẻ con trong vùng với một khoảng cách từ 10 đến 15 cây số có chỗ để học tiếp.  Trường nằm trên một đồi cát, cạnh miếu thờ Cá Ông.  (Người vùng biển kính cẩn thờ cá voi, họ gọi là cá Ông, vì họ tin rằng cá Ông giúp ngư dân khi gặp nạn ngoài biển khơi. Khi cá Ông chết, tấp vào bãi, họ gọi là Ông lụy (chết), người đầu tiên gặp Ông lụy phải để tang, và cả xóm biển phải làm tang lễ cho Ông.) Trường có tên là Trung Học Bán Công Phan Rí Cửa. Không biết tại sao lại gọi là bán công, nhưng học sinh phải đóng tiền như trường tư. Có điều, ngôi trường ấy là trường trung học duy nhất của Tỉnh Bình Thuận không nằm trên địa bàn tỉnh lỵ, cho nên nó là niềm hãnh diện chung của dân chúng trong vùng bắc Bình Thuận.  Trường dạy cho đến lớp Đệ Tứ (lớp 9). Ngoài Thầy Trương Minh Huệ mà người địa phương gọi thân mật là thầy Sáu Huệ, làm Hiệu Trưởng, còn những thầy giáo được mời từ nơi khác về: Thầy Nguyễn Xuân Nhiên (Văn, Hội Họa, Nhạc) Thầy Trịnh Thế Trụ (Toán, Lý-Hóa, Vạn Vật) Thầy Đinh Tôn (Pháp Văn) Thầy Nguyễn đình Tín (Anh Văn)... Học sinh đi học, ngoài thứ hai chào cờ phải mặc đồng phục: quần trắng, áo trắng; còn thì tự do, nhưng phổ biến là bộ bà ba, sang thì màu trắng, hèn thì màu đen, quần này áo kia cũng không sao, áo vá cũng được, có tiền thì mang dép, không thì mang guốc vông, không có nữa thì chân không. Trường học hai buổi, sáng từ 8 giờ đến 11 giờ, chiều từ 1:30 đến 3:30, nên bọn học sinh ở xa trường phải đem cơm trưa theo. Cơm được bỏ trong gào mên (cà mèn) loại hai hay ba ngăn: ngăn lớn đựng cơm, ngăn nhỏ đồ ăn. Buổi trưa, quanh trường, chỗ nào cũng có những bếp lửa nhỏ do học sinh gầy để hâm đồ ăn. Cũng có đứa không có khả năng mang theo cơm và đồ ăn, buổi ăn trưa chỉ có vỏn vẹn vài nắm cơm và muối mè, hay miếng cá khô nướng trước.  Cũng có những học sinh từ những xã cách trường xa quá (Chợ Lầu, Lương Sơn, Long Hương) thi ở lại luôn ở trường cho đến cuối tuần hay cuối tháng, tối ghép hai bàn học lại làm chỗ ngủ, sáng dọn lại trả cho lớp. Họ cũng mang theo cả mùng mền chiếu gối, hai ba người chung nhau nồi nấu cơm. Mấy thằng bạn ngoài Duồng thì lại khác, đứa nào cũng rách rưới thê thảm, mắt đứa nào cũng bị bét (toét) vì cát bụi. Duồng là một làng đánh cá nhỏ nằm giữa Phan Rí Cửa và Long Hương, nhưng nghèo xơ, nghèo xác, cả làng chỉ có chừng vài chục nóc gia, nhà cửa xiêu vẹo, lụp xụp... Đám bạn học ở Phan Rí Cửa gần trường thì khá hơn, thị trấn này giàu có nhất so với mấy xã khác, sống nhờ vào biển: đánh cá và làm nước mắm,  các ngành nghề khác cũng phát triển khá hơn. Vào thời đó (60 - 61) mà Phan Rí Cửa đã có điện, cây xăng, nhà máy nước đá, rạp hát... Nhà thằng Dũng, thằng Thạnh, bạn cùng lớp là nhà hàm hộ (làm nước mắm), trong nhà có cả bàn ping-pong. Tụi nó con nhà giàu, học giỏi, lại đẹp trai... nhưng vì chỉ quanh quẩn chỉ có tụi tôi là đồng lứa nên cũng hòa đồng với nhau mà chơi, mà học, mà nghịch phá... không thấy có những phân biệt như ở những chỗ khác. 

  

Trung Học Bán Công Phan Rí Cửa Ngày Nay (Tháng 7-2007)
Tôi không biết lúc đó tiêu chuẩn học hành của các trường ở Sài Gòn hay các trường Tỉnh ra sao, nhưng quả thật ở Trung Học Bán Công Phan Rí Cửa ấy, chúng tôi được dạy kỹ, dù về sau, tôi biết những Thầy của chúng tôi lúc đó chỉ có trình độ Tú Tài I là cao. Sĩ số đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp hàng năm của trường rất cao. Ở trình độ đệ Tứ lúc bấy giờ mà chúng tôi phải dùng tiếng Pháp trong giờ Pháp Văn, tiếng Anh trong giờ Anh Văn dù là nói chậm và ngắn (lúc đó ở trường dạy cả hai sinh ngữ cùng một lúc, không phân biệt sinh ngữ chính hay sinh ngữ phụ như sau chương trình cải tổ 1961). Pháp Văn thì học bộ sách (từ đệ Thất đến đệ Tứ) của giáo sư Bùi Hữu Sủng, Anh Văn thì học bộ L'anglais Vivant, Edition bleue. Có điều là học sinh dù có anh đã 17, 18 tuổi, nhưng vẫn nghịch như quỉ, và sợ Thầy như sợ cọp.  Một lần, một bọn học sinh trường kéo nhau sang vườn táo và đào gần đó phá phách, bị bắt được, mắng vốn, thầy phạt quì gối trước cửa lớp và chép phạt 200 câu "từ nay tôi không đi ăn trộm làm hại thanh danh nhà trường nữa", vậy mà không một ai oán hận. Một lần khác, trong giờ Pháp Văn, anh này ném cho anh kia một mẩu   giấy vo tròn, bị thầy Tôn bắt được, mở ra thấy có hàng chữ :"nid bonze maison toi ", cả lớp, kể cả Thầy, không biết anh nói gì, hỏi mãi anh mới ấp úng nói :"thưa Thầy, con chưởi nó" - "chưởi cái gì?"  -  "thưa Thầy con chưởi tổ sư nhà mày".  Cả lớp được một trận cười.  Trường nằm cạnh một phụ lưu của sông cái. Đường quốc lộ khúc trên, chỗ làng tôi, chạy song song với sông.  Mỗi sáng đi học, chúng tôi thường nhìn mực nước ở sông cái, để quyết định có nên đi đường tắt, lội ngang sông nhỏ để lên trường, nếu được chúng tôi có thể lợi được gần nửa giờ, so với phải đi đường vòng. Khổ một điều, vì khúc sông này quá gần cửa biển, nên đôi khi thủy triều lên, nước ở khúc này lớn, có khi khi lút đầu, bọn con gái thường quay trở lại đi đường vòng, bọn con trai chúng tôi, lột hết quần áo cuộn lại, một tay cầm sách vở, một tay cầm quần áo và cơm trưa,  đưa lên khỏi đầu, cứ trần truồng lội đứng bằng hai chân sang sông; qua bờ bên kia, chui ngay vào lùm mặc quần áo vô. Làng tôi ở cách xa trường khoảng ba cây số, học sinh thường tụ họp chừng năm ba đứa đi cho có bạn. Tôi có biệt tài kể chuyện nên tụi bạn thường tụ họp ở nhà tôi để cùng đi. Từ Tây Du, Phi Long diễn nghĩa... đến Ngũ Hổ Bình Tây, La Thông Tảo Bắc... kể theo chuyện cũng có mà bịa thêm cũng có.  Tôi không hiểu sao, bài học thì nhét vào đâu một cách khó khăn, mà chuyện đọc thì sao cứ vô cùng dễ dàng. Những Triệu Khuôn Dẫn, Trịnh Ân, Đào Tam Nương, Hàng Tố Mai... La Thành, Đơn Hùng Tín, Tần Thúc Bảo... Tôn Ngộ Không, Bát Giái, Ngưu Ma Vương...  chỉ đọc lướt qua mà sao tôi nhớ giỏi thế, còn mấy bài học, ngồi mài cả buổi mà khi trả bài cho thầy cứ quên đầu, quên đuôi. Vừa đi, vừa kể chuyện, đường không còn thấy xa. Lúc chấm dứt, bao giờ tôi cũng lựa một chỗ ly kỳ, hấp dẫn (nếu cần thì bịa ra, tụi bạn đâu có biết) rồi bắt chước cách nói trong chuyện Tàu lúc đó "Muốn biết khúc sau thế nào, xin chờ ngày mai sẽ rõ" khiến tụi bạn không thể rời tôi được.  Một trong những trò quỉ quái của bọn học trò con trai chúng tôi là xích (đu) xe ngựa.  Phương tiện di chuyển công cộng của người bình dân là xe ngựa, hình dáng cũng như xe thổ mộ ở Sài Gòn, nhưng bánh xe nhỏ hơn. Người đánh xe lựa chỗ ngồi trên càng xe để tạo cân bằng, thành ra khi có một thằng nhóc đu trên bàn đạp, sự cân bằng sẽ mất ngay, và thằng nhóc sẽ lãnh một roi quất ngược về phía sau, rủi mà trúng dám rướm máu lắm. Bị đòn đau như vậy, nhưng mười thằng là đã hết chín thằng thích đu xe. Có lần bác Tư Nhường đánh xe ngựa mắng vốn má tôi   " Cái thằng con chị, tui đâu có làm hiểm với nó, nó muốn thì đón xe, tui cho quá giang; lần nào cũng xích theo xe, có ngày té chết."

Cứ thế cho đến ngày tôi thi đậu được bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, thì gia đinh tôi dời về Phan Thiết. Xa trường, xa đám bạn nghịch ngợm, xa cả làng quê nghèo khổ...

Làm sao quên được những kỷ niệm của thời thơ ấu? Những đêm sáng trăng, bắt chước mấy gánh hát rong, tụ nhau trên nhà lồng chợ giả làm đào làm kép, đứa nào cũng muốn đóng vai chánh. Hô một tiếng "tam quân" là lũ nhóc con dạ ran, lũ nhóc này cũng là đám khán giả nhiệt tình của đám đào kép nửa mùa đó.  Nhớ những lúc chơi, nhảy dây, u mọi... nhất là rượt bắt, trẻ con mỗi xóm là một phe, cũng có phục kích, dụ địch, bắt và giải cứu tù binh. Mà không biết sao,  hồi đó tụi tôi chơi nhiều trò có nguồn gốc khác nhau, từ Bắc (rồng rắn lên mây) Trung (Đúc hột đúc hạt... vùng Qui Nhơn, Phú Yên) đến cả những trò chơi xuất phát từ tôn giáo (Thiên đàng Địa Ngục...) .  Cũng có cả trò chơi du nhập từ nước ngoài: trò đánh banh (quả banh nhỏ bằng cao su) mà sau này tôi biết là đã nhái theo gần như y hệt môn thể thao bóng chày của Mỹ...

Đất nghèo, chỉ có cát và bụi, thì lấy gì để tạo ra của cải để làm giàu?  Người dân quê tôi nghèo quá, chân và vai to bè và chai cứng vì phải gánh nặng và lội bộ trên cát nóng, nhưng họ vẫn hy sinh làm việc để gửi con cái họ đến trường. Họ quê mùa, dốt nát, nhưng họ muốn con cháu họ phải có đời sống khá hơn, không rơi vào con đường đau khổ mà họ đã trải.  Họ sống đời tối tăm nhưng họ muốn con cháu họ sống trong tươi sáng. Ước mơ của họ, như bao bậc cha mẹ của những miền quê nghèo khó của miền Trung là làm sao họ đổi được đời, con họ đổi được đời...  Họ đổi được đời chưa thì không biết nhưng ước mơ của họ về tương lai của con cháu thì có thể đã đạt được. Mà sao trong lòng thấy như có gì cay đắng. Làng quê tôi, cát bụi, nghèo đói vẫn còn nguyên bụi cát đói nghèo, những người con thành đạt cũng tìm những nơi khác để cống hiến. Có chăng chỉ là những tình cảm không làm nên cơm gạo cho phần đất nghèo nàn, cơ cực ấy.

Con sông Lũy vẫn khô cạn và mặn chát trong mùa nắng và vẫn cuồn cuộn hung hăng tràn bờ trong mùa mưa lũ. Và làng quê tôi không có cây đa cao vút từng xanh, có con sông lơ lững vờn quanh... cũng không có bao mái tranh san sát kề nhau, bóng tre ru ôm mấy hàng cau... Có chăng là những mái tranh lụp xụp, úp trên những vách đất được trét bằng bùn và rơm, những con đường quanh co trong xóm đầy cát lầm, cái thứ cát màu xam xám vì lẫn quá nhiều thứ, trong đó có cả mồ hôi của người dân quê tôi.



Tháng 3/2001



(Hợp Lưu số 62 - Xuân Nhâm Ngọ)

                                                             

MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI Nhân cứ nhìn trộm người đàn ông phía bên kia kệ hàng của siêu thị. Ông ta không biết có người nhìn mình, v...