Friday, November 2, 2018




 NẾU SÁCH BIẾT NÓI

Hòa Đa
Anh tôi là người mê sách, ngay thời còn đi học, tháng nào anh cũng dành tiền mua một cuốn sách, dù thư viện trường và thư viện quốc gia là nơi anh mất nhiều thời gian nhất trong ngày. Hai tiệm sách quen thuộc của anh là nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi và nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do.  Ngày Chúa Nhật, bạn bè muốn tìm anh cứ quanh quẩn ở các tiệm sách, thế nào cũng gặp.

Sau này, khi ra đi làm, ở tỉnh không có tiệm sách lớn, anh đặt mua hai tạp chí Paris Match của Pháp và Life của Mỹ. Trong nhà, số sách báo chất đầy các kệ sách lớn nhỏ, thứ nào theo thứ ấy, như một thư viện nho nhỏ, từ các sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Xuân Việt, đến các bộ truyện lừng danh của Trung Quốc như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Đông Châu Liệt Quốc, Sử Ký Tư Mã Thiên… Sách tiếng Pháp và tiếng Anh cũng không ít, tiểu thuyết của A. Camus, F. Sagan, E. Hemingway; loại viết về chiến tranh Việt Nam của B. Fall và D. Pike cũng nhiều… Nói chung, thứ nào cũng có, từ triết học Á Đông như bộ Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc, Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh… đến các loại sách tham khảo kiểu Bách Khoa Toàn Thư Britanica…

Năm Mậu Thân, nhà nào cũng có một hầm trú ẩn trong nhà, phòng khi giữa lúc tên bay đạn lạc có nơi trú. Ở nhà, Ba tôi cũng dựng một hầm nổi mà một mặt là những giá sách và trên nóc hầm, ông xếp những bao sách thay cho những bao cát. Trong trận tấn công thứ hai vào thị xã, phía trước nhà có cả lô cốt phòng thủ của quân đội, do Biệt Động Quân trấn giữ; trước khi khu vực nhà tôi lọt vào giữa trận chiến, cả gia đình phải di tản, gần một tuần sau, khi tình hình lắng dịu, tôi mới có dịp quay về thăm chừng nhà; nóc nhà mất một góc, phần mặt tiền coi như tiêu, nhưng kiểm điểm mọi vật trong nhà, tất cả còn nguyên vẹn, kể cả nồi cá kho đã thiu còn trên bếp và thùng gạo dự trữ trong góc nhà, nhưng tủ sách bị lục tung, hai bộ Tam Quốc Chí và Đông Châu Liệt Quốc được đóng bìa da biến mất, chắc cũng lọt vào tay nào mê sách như anh tôi.

Mấy năm sau, tôi ra trường và chuyển về dạy học ở một tỉnh trong nam. Chịu ảnh hưởng phần nào của anh, tôi cũng bắt đầu tạo dựng tủ sách cho mình. Tuy không có nhiều cuốn giá trị như trong tủ sách của anh tôi, nhưng kể về lượng cũng không kém. Ngoài số sách chuyên môn còn sót lại ở đại học, tủ sách của tôi  có vẻ “phổ thông” hơn nhiều.  Tôi là thày giáo trung học nên cũng ít nhiều nặng về giáo dục, kệ sách của tôi chiếm nguyên gần trọn một vách của phòng trước, cũng là chỗ tôi kê mấy bàn học cho lớp dạy thêm của tôi, trên đó có mặt gần hết sách của Tự Lực Văn Đoàn, Hồ Biểu Chánh ngày trước và mấy mấy tác giả hiện đại như Sơn Nam. Nhã Ca, Mai Thảo, Duyên Anh… Kệ sách còn có cả một phần truyện bằng tranh rất thịnh hành thời bấy giờ: Chuyện Xì Trum, Lucky Luke, Tintin… và một loạt truyện giáo dục thiếu nhi màu xanh, hồng, tím của nhà xuất bản Tuổi Hoa, dành cho nhiều lứa tuổi khác nhau.  Chẳng là lúc đó vợ tôi là cán sự xã hội, lại chuyên về thiếu nhi. Cô ấy “dụ” con nít hay lắm. Nhà chúng tôi mướn, tuy khang trang và có vòng rào riêng biệt, nhưng lại nằm trong một khu lao động có thể nói là nghèo nhất trong thị xã. Trẻ con trong khu xóm thường ít học dù có vài năm đến trường, thường hay tụ lại trước nhà tôi mỗi chiều, lúc bóng râm của cây mận trước nhà che mát hết sân xi măng. Lúc đầu chỉ có vài trẻ mà vợ tôi mến, rủ tới chơi, hái mận ăn, đưa truyện tranh cho đọc, sau bọn trẻ càng ngày càng đông, nhiều lúc chúng đến và ồn ào trong lúc tôi đang có lớp dạy kèm, nên tôi phải nhúng tay vào việc cô ấy. Tôi có kinh nghiệm về việc này vì ngày trước từng là huynh trưởng Hướng Đạo. Tôi gọi đùa nhà tôi là Phòng Đọc Sách cho trẻ con, mở cửa tuần ba lần vào các chiều thứ ba, năm, bảy, mỗi ngày hai giờ, từ 4 đến 6.  Bọn trẻ muốn đọc sách tại đó, phải là “hội viên”. Điều kiện để trở thành hội viên rất đơn giản, do vợ tôi nghĩ ra: (1) không chửi thề, nói tục (đứa nào vi phạm bị cấm mượn sách một tuần); (2) không đánh lộn và (3) phải do một “hội viên” cũ giới thiệu và bảo đảm.  Tất nhiên số hội viên cũ ban đầu này là mấy đứa thân thiết với vợ tôi. Mỗi tuần, trẻ có thể mượn mang về nhà một cuốn truyện Tuổi Hoa, và có thể đọc tại chỗ bao nhiêu tùy thích.  Công việc này làm biến đổi khu xóm rất nhiều: trẻ con bớt chửi thề nói tục, đánh lộn.  Bà con trong xóm cũng nhận thấy điều đó. Có lần, một phụ huynh tìm dến gặp và xin bồi hoàn tiền cuốn truyện do con bà mượn và lỡ bị em nó xé rách; nó nhất định không dám đến vì sợ “ông thầy” la.  Trẻ lớn hơn, học trung học cũng có thể đến mượn sách về nhà đọc,  có cả đứa mượn cả sách giáo khoa lúc đó tôi có khá nhiều vì năm nào nhà xuất bản hay tác giả cũng gửi tặng thầy giáo sách mới xuất bản để giới thiệu. Phòng Đọc Sách này kéo dài đươc hơn hai năm cho đến ngày tôi phải dọn nơi khác vì hết hạn mướn nhà, chủ muốn lấy lại để ở.

Mấy năm sau, “giải phóng”!

Anh tôi, lúc đó đang ở Sài Gòn. Gia đình theo lớp người di tản trong những ngày hoảng loạn cuối cùng cuối tháng Tư. Tôi hay tin, về Sài Gòn thu xếp. Cái gì mang đươc về dùng thì mang, còn lại thì bán. Riêng mớ sách của anh, mang đi thì nặng mà bỏ không nỡ. Anh tôi về sống ở Sài Gòn hơn chục năm, làm ăn được. Tính đam mê ngày xưa vẫn còn, nay lại có thêm điều kiện nên tủ sách của anh toàn là những thứ có giá trị.  Có những thứ không dễ gì kiếm được ở thị trường thời bấy giờ như cuốn Hồi Ký của ký giả Nam Đình, Histoire Du VietNam của P. De Viller hay bộ History of Civilisation của W. Durant… tôi đành phải đóng thùng những sách có giá trị gửi bên nhà ba vợ tôi bên Cầu Chữ Y, phần còn lại, bán ve chai lông vịt. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những sản phẩm của trí tuệ con người nằm lẫn lộn với thau nhôm bể, dép đứt.          

Người mua còn chê:
- Anh thấy không, khổ giấy của sách nhỏ bán không đươc giá, thứ này nặng ký nhưng chỉ dùng để gói tiêu hay thứ gì nho nhỏ, cùng lắm là gói bánh mì. Người ta khoái giấy báo hơn, rộng, dễ xài!

Đúng là thời thế thay đổi làm những giá trị tinh thần cũng thay đổi luôn. Tôi ngẩn ngơ hết mấy hôm vì nhìn thấy những gì anh mình hằng ôm ấp và tự hào nay ra đi như những thứ phế thải. Tư tưởng của bao người trên các trang sách nay chỉ còn giá trị dùng làm bao bì, thậm chí còn tệ hơn, ô uế hơn.

Một năm sau, đến lượt sách của tôi.  Nhà nước phát động phong trào quét sạch nọc độc văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy để lại. Các em học sinh đi theo nhóm càn quét này chỉ cứu được mấy cuốn sách chuyên môn học trình đại học của các Giáo Sư Lê Văn Thới, Chu Phạm Ngoc Sơn. Nguyễn Chung Tú, Lý Công Cẩn, Cao Xuân Chuân… một số sách về Hóa Học và Vật Lý bằng ngoại ngữ, và một số rất ít sách giáo khoa trung học.  Còn tất cả, kể cả cuốn tự điển Webster mà tôi hãnh diện khoe với vợ khi mua được nó ở chợ sách cũ và cuốn Tự Điển Pháp Việt của Đào Duy Anh, đều cùng chung số phận: quăng nhào trên chiếc xe ba gác, nằm xiêu vẹo chỏng chơ bên mấy băng nhạc cassette, máy đánh chữ, cả cái máy hình Canon loại đờ -mi bỏ túi cũ kỷ cũng bị tịch thu với lời cảnh cáo đầy hăm dọa:
- Anh dùng máy chữ  làm gì, đánh máy truyền đơn chống lại cách mạng? anh làm gì mà có máy chụp hình? anh dùng máy này để làm gì? Chụp hình mấy cơ quan hả?

Năm sau tôi dọn về sống ở nông thôn, một lựa chọn không mấy dễ dàng để tránh khỏi bị tống đi kinh tế mới. “Nhà” mới của tôi không gần đường bộ, nhưng thuận đường sông. Mấy người bạn Hướng Đạo cũ phụ tôi dọn nhà trên ba chiếc tam bản, vốn có máu tếu trong người, gặp nỗi khó khăn vẫn vui tươi; dọc đường, bắt chước mấy người mua ve chai lông vịt rao “bán” sách: “Ai mua sách cũ hông? – ai mua soong cũ, nồi cũ, sách cũ hông?” làm mấy bà ven sông xớn xác tưởng dân mua phế liệu, kêu vào bán nồi nhôm dép đứt…

Một lần, mưa gió giông bảo giật sập căn nhà cheo leo giữa đồng mông quạnh, tôi chịu trận hai ba ngày liền mưa gió để che chắn đậy điệm chút tài sản hiếm hoi còn lại mà phần lớn là sách.  Mấy ngày sau nắng lên, bên cạnh mớ quần áo, gạo thóc ít oi là mấy đệm sách, bà con nông dân qua lại lắc đầu cám cảnh, có người còn hỏi mỉa :”Bộ cha nội thầy giáo này ăn sách mà sống sao chớ? Người ta nhà sập phơi lúa, thằng chả phơi sách!” Có người còn vô tình hơn :” Chèng ơi, sách của ổng hả? cho tui làm giấy vấn thuốc hút, cả đời cũng không hết”  Nghe những bình phẩm kiểu đó, tôi chỉ còn cách cười mếu cho qua buổi.

Một lần khác, có người khách lạ hỏi thăm nhà người quen trong xóm, dáng chừng cũng là cán bộ hưu trí qua cách ăn mặc và tuổi tác, tôi cho thằng con dẫn đường giúp… Lúc trở về, ông ghé nhà, xin miếng nước uống. trong lúc ngồi nói chuyên, ông đảo mắt qua tủ sách tôi, rồi hỏi, giọng nam kỳ rặt:

- Nghe Ba Lâm trong xóm nói ngày trước chú là thày giáo?
- Dạ phải
- Trước chú dạy ở đâu?
- Dạ ở trung học tỉnh?
- Sao chú lại về làm ruộng?
- Tại lý lịch - bỗng nhiên tôi cảm thấy khó chịu, trả lời nhát gừng - bản thân là sĩ qian biệt phái, em, sĩ quan ngụy! Ty giáo dục cho là thành phần không tốt, tôi không về làm ruộng, phường sẽ đưa đi kinh tế mới…

Khách trầm ngâm một lát rồi nói:
- Như vầy là lãng phí, kiến thức là vốn quí của con người lại bị nằm không trong chòi lá này, mặc dầu biết là không ai lấy của chú được... Bác Hồ nói “…vì kế hoạch trăm năm, ta trồng người”. Chú muốn đi dạy lại không? Tôi có thể can thiệp ở Ty. Tôi có hỏi Ba Lâm tên chú rồi, nếu chú muốn, tôi sẽ can thiệp, chú sống như vầy không sợ mai một ư.

Câu nói trên của nhà tư tưởng nào đó bên Tàu, Bác Hồ dịch lại, cán bộ nhà mình từ cao đến thấp đều bảo là bác Hồ nói, nghe thấy mệt.

Mấy năm xa trường, xa lớp, tôi nhớ biết bao khung cảnh trường xưa lớp cũ, tôi thèm biết bao được trở lại với môi trường cũ của mình.  Dù không tin vào lời hứa của một người không quen biết, tôi vẫn nuôi hy vọng:
- Được vậy thì còn gì bằng, nhưng có hy vọng gì không?
- Thì chú cũng để tôi thừ xem!

Chuyện ngừng ở đó, và tôi cũng không có có cơ hội chính thức trở lại trường.

Tuy vậy, cũng có một khoảng thời gian khá dài tôi sống nhờ sách vở, khi dạy cho các nhóm luyện thi đại học, tất nhiên là dạy chui, câu nói chơi của người bạn nông dân “Bộ cha nội thầy giáo này ăn sách mà sống sao chớ?” ngày trước khi nhà sập thế mà đúng. Có lần đang dạy, công an phường “chộp” được, tịch thu hết sách vở mang về phường hẹn ngày mai giải quyết. Đang lang thang buồn rầu thì gặp một học sinh cũ; hỏi, biết chuyện, em nói:
- Thầy ngồi đây uống cà phê chờ em đi lấy về cho.

Một lát sau, em trở lại với túi sách vở của tôi, cười nói:
- Em lại công an phường, thằng tịch thu sách của thầy là học trò trong lớp bổ túc của em, trưởng công an phường cũng học trong lớp bổ túc, em xin lại. Thầy coi có mất gì không? Mấy chả lộn xộn, đọc không hiểu còn đòi để nghiên cứu!

Thời gian cứ lần lữa trôi đi cho đến ngày tôi chính thức đi Mỹ theo chương trình ODP. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục, khám sức khòe… tôi chờ ngày lên đường. Tủ sách tôi vẫn chưa giải quyết ổn thỏa. Tình cờ gặp lại một số học trò cũ, nay đã có đứa nối nghiệp làm thày giáo, có đứa là kỹ sư, tôi chợt nghĩ thôi thì giao cho tụi nó. Hẹn nhau một ngày, năm đứa, vào nhà tôi, tận trong ruộng, tôi cho tụi nó mặc tình muốn lấy bao nhiêu cuốn, loại nào cũng được, tùy ý… tủ sách vơi đi một phần. Phần còn lại, tôi mang ra chợ huyện cân ký lô cho mấy chị bán bánh mì, bán hàng xén, mỗi chuyến chỉ chở được hai giỏ đệm cột sau xe đạp… lần này không còn những “bức xúc” như trước kia, khi biết số phận những trang sách sẽ thơm mùi tỏi tiêu hay bầy nhầy mỡ heo, miếng thịt…Ít ra, chúng cũng được là cái gì đó dù vô cùng khiêm nhường trước khi vào thùng rác. Cuối cùng chỉ còn mấy cuốn sách tham khảo quí giá về Hóa Đại Cương, Hóa Vô Cơ, Hữu Cơ, Cơ học Thuần Lý, Toán Vi tích phân…của thời tôi còn miệt mài ở Đại học Khoa Học và Sư Phạm, hầu hết đều bằng tiếng Anh và tiếng Pháp.  Suy đi nghĩ lại, dù gì mình cũng đã từng lăn lóc trong các ngõ ngách cùa hai ngôi trường thân yêu này, cũng từng ngày xưa xếp hàng trong các thư viện của trường để chờ sách, bây giờ không còn dịp dùng nữa, sao không tặng lại cho trường, ít ra còn có ích cho kẻ khác.  Nghĩ  sao làm vậy, nhân lúc phải về Sài Gòn làm giấy tờ, tôi hăm hở nêm chặt sách vào hai túi hai đáy Thái Lan sắm để đi Mỹ. Trên chuyến xe lam từ bến xe miền Tây về nhà, kẻ gian thấy hai túi nặng, tưởng chứa đồ buôn lậu từ biên giới về, rạch một đường. Chắc chúng cũng rủa thầm vì thuốc thơm, dép Lào đâu không thấy, chỉ thấy toàn sách. Cái túi mới tinh bị rạch một đường oan mạng.

Hôm sau, đến trường Khoa Học trước, hỏi xin gặp Hiệu Trưởng, bận họp, Phó Hiệu Trưởng, không có mặt. Gặp một thầy cũ, nói rõ ý định, thầy nhìn ái ngại, bảo “thôi mai anh đến vậy”.

Lần sang Sư Phạm, mấy cây me tây bây giờ đã trở thành cổ thụ, tàn lá che kín sân trường. Hai dãy lầu ngày xưa nằm song song như hai anh em của hai ban Văn Chương và Khoa Học nay đã rêu phong. Văn phòng bây giờ không còn ở đó nữa mà dời sang trường Sư Phạm bên đường Thành Thái. Lần này may mắn gặp được Giáo Sư Hiệu Phó phụ trách Khoa Học của trường.

Sau khi nghe tôi trình bày, giáo sư nói:
- Anh về làm đơn xin tặng sách, nhớ kê rõ tên sách và tác giả, mang ra phường chứng nhận, rồi trở lại, nhé!
- Nhưng, thưa giáo sư, tôi không có hộ khẩu ở thành phố…
- Thì anh về quê, xin xã ấp chứng nhận cho! Vậy nhé!

Tôi lê hai túi sách ra về, lòng nặng trĩu.


Houston, tháng 5/2007

Thế Kỷ 21 số 221 – Tháng 9/2007

Tuesday, September 18, 2018




Giấy Đi Đường

Hòa Đa

Tôi kể chuyện này, chị qua Mỹ hồi bảy mươi lăm, chắc cũng khó tin là chuyện thật, mà chuyện thật như vậy đó chị Tân à!

Hồi đó khoảng tám hai, tám ba gì đó, học tập xong vợ chồng tôi về sang lại mấy công ruộng gò, làm chốn nương thân để khỏi phải đưa nhau đi kinh tế mới. Chẳng qua vì ảnh có gốc “Ngụy” mới học tập về, nhà lại là phố sang lại nằm ngay trước mặt văn phòng Thị Xã Ủy thì làm sao họ yên tâm cho được, thì cứ lôi cái cớ “anh là sĩ quan ngụy, nay không có công ăn việc làm, không thể bám mãi vào thành phố như các loại tầm gởi, ký sinh trùng, mà phải tự lực tạo nên của cải vật chất, nhà nước đã lập sẵn các khu kinh tế mới, anh chị phải đi thôi”. Mà chị có biết khu kinh tế mới là gì không? Tôi không biết họ sẽ đưa gia đình tôi đi đâu, hình như miệt Đồng Tháp Mười gì đó, nghe địa danh tìm hoài trên bản đồ cũng không thấy. Tôi không biết khu đó như thế nào nhưng tôi có biết khu kinh tế mới dành cho cư dân của Thị xã Phan Thiết, chẳng là ông già và cô em của tôi phải lên đó mà. Đó là một khu rừng thuộc xã Tà-Pao, cách ga Suối Kiết của đường xe lửa ngày xưa đâu khoảng gần ba mươi cây số, trên con đường dẫn lên cao nguyên nằm lọt thỏm vào mật khu của họ ngày trước; mùa khô xe từ Phan Thiết đi Tà-Pao mỗi ngày một chuyến dừng lại ở chợ Tà-Pao, phải đi bộ thêm khoảng mươi cây số nữa mới tới mấy đội sản xuất của khu kinh tế mới.  Mùa mưa, xe chỉ ngừng ở ga Suối Kiết, người ta phải gánh gồng lương thực tiếp tế, lội bộ hơn mười tiếng đồng hồ nữa mới tới khu kinh tế. Mỗi hộ dân được chia cho một khoảnh đất khoảng chừng năm trăm mét vuông, trên đó có một căn chòi cất sơ sài, rộng chừng hơn mười mét vuông, quanh nhà là những cây rừng cao ngất, nhiều nhất là bằng lăng, gỗ của nó có giá dưới đồng bằng dùng để đóng tủ giường, gọi là gỗ thao lao; rễ của nó là loại rễ bàng, mùa mưa dầm, gió mạnh là ngã. Đã có cây, gốc từ lô này ngã cái rầm như bom nổ, ngọn nằm vắt ngang trên hai lô khác, đè căn chòi  với mấy người trong đó xẹp lép… Hàng ngày cứ theo tiếng kẻng tập họp lao động theo các đội sản xuất. Thú thiệt với chị, vợ chồng tôi không sợ lao động, nhưng sợ nhất là giam con cái nơi thâm sơn cùng cốc, không trường học, chợ búa…

Nhờ số vàng nữ trang cưới còn sót lại (chồng đi cải tạo, tôi ở nhà cắn răng chịu đựng không dám đụng tới), tôi bàn với ảnh đem bán, vì giữ lại còn dịp đâu mà mang. Ảnh không tiện ló mặt ra, một mình tôi cày cục xin sang đất và làm ba thứ giấy tờ có tên gọi đẹp đẽ là “nhường cơm xẻ áo” (đất của nhà nước mà, đâu có ai bán được!). Gia đình tôi đưa nhau về sống ở thôn quê, cách thị xã hơn mười cây số, cũng còn hơn là phải đi kinh tế mới, dù gì thì nơi này cũng  còn trường học cho mấy đứa con. Tôi bắt đầu cuộc sống của người nông dân, học lại họ từng chút một, mày mò mà sống. Cũng may cư dân ở đó cũng là “ngụy dân” nên không có tính kỳ thị như chính quyền.  Chừng có chút lúa trong nhà, chà gạo té ra cám, tôi nghĩ tới chuyện nuôi heo. Thiệt ra cũng hơi khó!  Cám quốc doanh chỉ dành cho mấy nhà máy chế biến thức ăn gia súc, bán cho cán bộ theo chế độ phân phối, dân thường phải nhờ mánh, mua đi bán lại giành giựt từng lít một, còn mua ở chợ thì trấu xay nhuyển nhiều hơn cám mà giá cả thì tùy tiện. Nhằm lúc heo đói, cũng phải cắn răng mua đỡ vài lít. Thành ra, cứ rảnh rỗi là chúng tôi xuống nhà máy trộn thức ăn gia súc ở huyện canh me, mua được chừng nào hay chừng ấy, cũng phải mua với giá cao thôi, nhưng mình có thể tin phần nào vì heo cán bộ cũng ăn cám này, ít nhiều có “chất lượng” hơn cám chợ.  Dần dà chúng tôi quen anh phân phối ở nhà máy, ngày trước anh là giáo viên ngụy, nhà có ông chú đi bưng, nên có được chân trong nhà máy. Anh thấy tụi tôi không tranh giành gì với bạn hàng, nên có cảm tình, khi nào xuống cũng rinh về được khoảng chục ký thức ăn cho heo, đủ dùng cho hai con heo vài ngày. Chồng tôi lại lân la hỏi thăm anh về thành phần trong thức ăn có đúng như trong bảng công bố không thì anh chỉ cười nói nhỏ : “mỗi thứ anh cứ giảm phân nửa thì vừa, vôi, đạm, bột gì cũng vậy…” Nghe anh nói tụi tôi tính lại, mua thêm bột vỏ sò, ruốc khô, tấm thô… trộn thêm vào nên thành phần dinh dưỡng của tôi cao hơn của nhà nước nhiều.  Nhớ lại, hồi trước có đọc được một tài liệu nói cho heo ăn thức khô hay đặc, máng nước đặt kế bên để heo uống tùy tiện, heo sẽ mau lớn hơn. Tôi làm theo, bà con nông dân thấy lạ vì tập quán của họ là cho heo ăn lỏng, ít tốn cám mà heo mau no. Rau xanh cho heo là dây khoai lang, mua một ôm lớn, về ngắt đọt luộc cho người, phần còn lại nấu cho heo, mà giá cả thì tính hết cho heo, người ăn ké thôi, không kể. Tôi lại học cách của nông nghiệp, tính trọng lượng heo nhờ vào số đo vòng ngực và chiều dài của heo, cứ hai số này được một mét thì heo nặng tám mươi ký, một trăm mười lăm phân thì heo vô tạ. Tôi ghi chép cẩn thận chi phí thức ăn, thuốc men, trọng lượng… tính ra giá thành của một ký heo hơi. Rảnh rang mà! Làm như vậy cũng thấy vui, còn hơn là có thì giờ thì cứ lê la với mấy bà trong xóm . Tôi nuôi heo có “khoa học kỹ thuật” như vậy, nên heo lớn mau lắm chỉ vài ngày là thấy khác, bà con quanh xóm ai cũng ngạc nhiên. Họ có hỏi, tôi chỉ cách cho họ, họ lắc đầu nói “rắc rối quá, mình nuôi heo như bỏ ống, cần thì bán, hay chờ tới Tết làm thịt chia lúa…” tôi chỉ cười thông cảm, cũng khó thay đổi thói quen của họ.

Lần đó tôi nuôi hai con, giống Yorshire, chỉ hơn ba tháng, một con chín mươi ký, một con hơn tạ. Bây giờ là lúc thu hoạch, nhưng làm sao bán đây? Heo có bịnh, làm đơn xin xã xẻ thịt chia lúa cho nông dân, còn không thì bán cho nhà nước, mà bán cho nông nghiệp xã thì giá heo hơi của họ chưa đủ tiền mua cám. Cán bộ có chức càng cao, mua thức ăn càng rẽ. Khi bán, xe thu mua heo từ thành phố về cân với giá cao. Còn dân thường không bán được cho xe heo thành phố mà phải qua nông nghiệp xã, họ mua theo giá qui định nhà nước. Theo cách đó thì nuôi heo theo kiểu bỏ ống của nông dân là phải rồi, “khoa học kỹ thuật” như tôi thành ra kẹt cứng. Mà làm sao đem được heo ra thị xã bán cho mấy lò thịt, họ hút (thiếu, hụt) heo đó nhưng vào tận xã mua heo của mình thì không được. Cái xã hội thiên đường mà cán bộ thường nói không thấy!

Chị chắc cũng nghe nói về chính sách ngăn sông cấm chợ một cách triệt để của nhà nước vào thời gian đó, cũng không biết họ dựa vào lý thuyết kinh tế nào nữa, chỉ biết một hột gạo, một ký thịt, con gà gì cũng không đi lọt được. Nghe kể có một bà Má, mang có chục lít gạo và một nồi thịt kho  cho con gái mới sanh, đang ở cữ trên thành phố, bị chận bắt ở trạm Ba Càng, bả khóc hết nước mắt. Còn tôi cũng có kinh nghiệm tương tự, có lần mang hai chục lít gạo về cho mấy đứa em trên Saigon, tôi nhờ người quen chạy cho cái giấy chứng nhận “cán bộ nông nghiệp đi công tác ở thành phố, cho mang theo mười ký gạo…” nhờ đó tôi đi lọt được trạm ngã ba Sơn Trạch (bà con gọi ngã ba Cái Bè là ngã ba Sơn Trạch, sạch trơn, cái gì không giấy tờ là bị tịch thu) Lần đó, cùng ngồi trên xe có một cô mang theo mấy gói thịt heo, lên xe từ bắc Mỹ Thuận. Mới qua hai trạm ở ngã ba Cao Lãnh  và Cái Bè, cô mất mấy gói. Xe lại tiếp tục, đã qua Bình Chánh, tưởng yên, nào dè khách nghe bác tài la to “ bà con chuẩn bị, có trạm xét đột xuất dọc đường”, gần tới, cô lôi một gói từ dưới băng ghế thảy đại vào một ông khách đội nón cối ngồi trước mặt năn nỉ:

-   Chú ơi, cứu giùm con, con chỉ còn túi này thôi, mất luôn túi này là con hết vốn

-   Sao lai giao cho tôi, tôi không biết nói láo, hỏi là tôi khai thật đó.

-   Trời ơi, giúp giùm con mà chú.

Xe dừng lại, anh lơ nhảy xuống mở cửa, hai anh công an tiến tới, cúi xuống các hàng ghế lục lọi.



-   Còn gì nữa mà xét, một người trong xe nói.

-   Bác mang gói gì đây?

Anh công an chỉ vào gói thịt trong lòng ông cán bộ già. Cả xe nín thở, ông ta trả lời tỉnh queo:

-   Thịt heo, ngày mai đám giỗ cha tôi, nhà tôi đưa cho gói thịt, bảo mang về, tôi chỉ biết thịt heo, còn nặng bao nhiêu tôi không biết, các chú có muốn tịch thu thì cứ lấy.

-   Thôi có vài ký, bác cứ mang…



Anh thấy đó, tôi nghĩ phải làm sao mang được ra ngoài thị xã, chớ bán cho nông nghiệp xã thì thôi đành chờ cho heo bệnh hay chờ cho tới Tết.  Từ nhà ra đến phường năm thị xã giáp ranh xã tôi chỉ có hơn năm cây số  mà không có cách gì hay, đành chịu chết cứng.  Kẹt một điều là ông nhà tôi cần tiền để về Saigon thăm ông già bị bệnh. Chồng tôi ra thị xã, nhân một lúc ngồi uống cà phê với mấy người bạn, kể chuyện. Một người nói:



-   Để tôi giúp thử xem! Tôi làm cho anh cái giấy, nói cơ quan tôi có mua của anh một con heo để liên hoan và chia thịt cho công nhân viên, anh cầm giấy này đưa công an nếu bị chận xét. Chỉ là con heo thôi, không phải là đồ quốc cấm gì mà họ phải gởi người ra cơ quan tôi kiểm tra lại. Mà nếu anh ngại chạm mặt với công an, anh để chị đi, dù gì thì đàn bà cũngdễ nói.



Thì cũng đành hú họa, nhắm mắt làm theo. Cầm tờ giấy chứng nhận trong tay, tôi ra thị xã tìm và hỏi Tư Đẩu chuyên làm heo ở Phường năm, anh cho giá rồi nói:



-   Chị làm sao mang qua khỏi cầu ông Đồn là qua địa phận phường tụi tôi, quẹo khúc cua khuất mặt công an xã chị là tụi tôi hốt liền, nói là chắc lời, sáng mai chừng tám giờ tui cho tụi nhỏ đón chị.



Tôi cũng biết Tư Đẩu không để hụt mối này, vì đang thời kỳ hút heo, nếu để tôi mang ra tới phường một hay phường hai, tôi có thể bán với giá cao hơn, nhưng thôi, tôi chỉ có gan vừa vừa, không dám phiêu lưu lớn.



Nhờ anh Ba Phấn, ngày trước cũng chuyên nghề lái heo, nay giải nghệ về sống trong ruộng, anh bảo mang heo ra tới lộ, anh bắt trói giùm rồi ra bán cho, Tư Đẩu là đệ tử của anh ngày trước, có mặt anh, bọn họ không dám cân gian. Cái này cũng hên nữa, nghe nói, cân heo hơi với kỹ thuật nâng heo chuyên nghiệp, người bán có thể mất tới mười ký heo hơi là chuyện thường. Con heo đầu đi trót lọt, chắc mấy “ảnh” còn uống cà phê, chưa làm việc. Sẵn có “giấy thông hành” trong tay, tôi hỏi Tư Đẩu muốn bắt con nữa không, anh gật đầu liền. Tôi mua chục điếu Samit, rủ Ba Phấn về mang con nữa ra. Lần này thì gặp trạm. Chìa giấy chứng nhận của cơ quan, cùng với thuốc thơm Samit, mỗi người một điếu, con heo thứ hai cũng qua trạm trót lọt.



Chị Tân thấy không, khoảng thời gian đó dân mình sống cơ cực như vậy.  Ông bà thường nói “nhân chi sơ, tính bổn thiện” thế mà cứ luôn phải gian dối, chỉ vì cơ chế xã hội làm con người phải tìm cách gian dối, riết rồi tính gian dối trở thành một thói xấu của người dân. Hồi đó cán bộ có coi ai ra gì đâu.  Bây giờ kiều hối của đồng bào hải ngoại gửi về giúp thân nhân lên đến gần tám tỷ đô la một năm, có mấy ai bọc đô la trong túi đâu, họ đổi ra tiền Việt Nam để xài chớ, vòng qua vòng lại, cuối cùng cũng lọt vào tay các đại gia đỏ bên đó, ăn ngon như vậy, thành ra chừng nào họ mới chịu tụt xuống.



Nhớ lại hồi mới tiếp thu, có anh cán bộ tập kết ngoài Bắc về, người cháu trong Nam đưa cho cái xe đạp để làm chân, xe bể bánh dọc đường, cứ vậy mà vác trên vai về nhà, không dám kêu xe lôi chở, quần áo chỉ độc vài bộ thay đổi, thấy đáng nể và thương quá, công chức ở miền Nam ngày trước đâu có bình dân và “thiệt thà” như vậy! Chỉ ít lâu sau, thấy anh chễm chệ trên xe con có che màn, quần áo hàng hiệu… cô cháu gái bị đánh tư sản, ức lòng vượt biên, không thấy tin, không biết định cư được ở đâu hay đã bỏ xác ngoài biển, trên đảo.



Bây giờ có người về thăm , thấy khác xưa nhiều lắm, cái gì cũng có, kể cả điện thoại “ba gờ” và i-phôn (3G và iphone) họ gọi là “dế”, cứ gặp nhau là móc “dế” ra đá, anh nào có “dế” xịn hơn là có “đẳng cấp” hơn; Tivi màn ảnh phẳng mỏng teng, những thứ mà bên này không mấy người có. Người dễ dãi cho rằng Việt Cộng đã đổi mới rồi, tôi thì thấy chẳng qua họ làm đúng lời bác Hồ của họ nói “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.  Đảng viên bự và con cháu của họ bây giờ cái gì mà không có? 



Hồi lúc mới “giải phóng” ai cũng phải học chính trị, bài học tập nói :“ chế độ tư bản thối nát, bây giờ các anh phải quay hẳn một trăm tám mươi độ với cuộc sống cũ…” anh cán bộ hướng dẫn ý chừng muốn làm tăng phần quan trọng cho câu nói bèn phán luôn :“…các anh phải quay hẳn ba trăm sáu mươi độ…” tôi nhịn cười muốn té đái trong quần.  Bây giờ nhớ lại thấy không chừng anh cán bộ đó nói đúng, họ quay lại con đường của tư bản (dù họ không công nhận như thế) mà ngày xưa họ từng phỉ nhổ.  Có người cho rằng họ thức thời, tôi thì thấy muốn ói.  Chị Tân à, thấy một người nhổ ra rồi húp lại ngay, chị có thấy lợm giọng không?



Houston tháng 2/2010

MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI Nhân cứ nhìn trộm người đàn ông phía bên kia kệ hàng của siêu thị. Ông ta không biết có người nhìn mình, v...