DỐI TRÁ TỪ MỌI PHÍA
Hòa Đa
Năm học 1963-1964, tôi học năm cuối trung học. Biến cố chính trị 1963 cũng ảnh hưởng tới cuộc sống ở tỉnh lẻ. Ở tuổi mười bảy mười tám, chúng tôi bắt đầu tham gia một cách vô thức những trò chơi chính trị. Tuy không sôi nổi như ở thủ đô Saigon lúc bấy giờ, nhưng cũng xuống đường, bãi khóa, và cũng có vài quá khích thừa gió bẻ măng của đám đông bị khích động. Ai khích động? – không biết. Tôi chỉ biết bạn bè chúng tôi là những thằng hiền lành, chỉ biết ăn rồi học, chưa có những huấn luyện kỹ năng khích động, hầu hết chỉ là do hiệu ứng đám đông… Rồi những nông nổi của tuổi trẻ cũng qua mau.
Đậu xong Tú Tài 2, tôi
vào học ở Saigon. Chúng tôi phần nào ngơ ngác trong những cơn lốc
chính trị xảy ra hàng ngày trên đường phố, trong sân trường. Ngơ ngác
vì chưa đủ trình độ chính trị để phân tích, nhận định, ngơ ngác vì
có quá nhiều thông tin. Nhưng dần dà chúng tôi cũng rút ra được những
kết luận cho chính mình. Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, số cố vấn Mỹ ở
Saigon cũng đông hơn, những dịch vụ giải trí cho quân nhân Mỹ ngày
càng nhiều hơn, những công sự, lô-cốt quanh những cơ quan Hoa Kỳ, nơi cư
ngụ của quân nhân Mỹ ngạo nghể ngay trên đường phố. Người dân nghèo,
trẻ con, bám theo lính Mỹ xin mua hàng PX, xin kẹo , thuốc lá gây nên
những hình ảnh rất phản cảm. Mặt khác những tin tức về cuộc chiến,
những thiệt hại của Mỹ, Việt ở cả hai phía hàng ngày tràn ngập
trên báo chí, bạn bè, người thân bị động viên, nhập ngũ… và thanh niên lớn lên không được giải
thích gì cả, phải tự tìm lấy lời giải cho chính mình. Một vài
người bạn có lẽ đã được phía bên kia lôi kéo, kín đáo có những
hoạt động có tính dấn thân hơn dưới một vỏ bọc hợp pháp. Một người
bạn cùng quê, học chung từ tiểu học, cùng với hai mươi sinh viên khác
lê lết dìu nhau ra tòa, chính quyền không đủ chứng cứ để buộc tội
họ là cộng sản phải thả họ ra và họ được coi như những người hùng
(chỉ sau này, sau 75, một số trong bọn họ, trong đó có người bạn tôi,
mới xuất hiện như những cán bộ cộng sản nằm vùng từ thời trước)
chúng tôi vẫn sống bên cạnh nhau vẫn thân thiết nhau, thậm chí tôi còn
giúp lãnh bài roneo cho anh, để anh có thể học và hoàn tất phần thi
viết chứng chỉ Hóa Hữu Cơ Thâm Cứu, khi anh còn ở tù. Cũng như về
sau khi về dạy học ở Vĩnh Long, tôi đã gặp một trường hợp tương tự: hai
người con của một cán bộ Việt cộng (đang bị giam ở khám lớn Vĩnh
Long, về sau là tỉnh ủy Vĩnh Long ) vẫn theo học tại trường trung học
tôi đang dạy và một em đang là giáo sinh của trường Sư Phạm Vĩnh Long,
tôi không tin là chính quyền không biết lý lịch của các em. Chính
quyền miền Nam lúc đó không khắc nghiệt như người cộng sản vẫn tuyên
truyền.
Trở lại bộ phim The
Vietnam War, ngay từ đầu, Washington biết không thể thắng trong cuộc
chiến ở Việt Nam, nhưng vẫn đẩy hàng ngàn thanh niên ra chiến trường
và nhận về những tổn thất ngày càng nhiều hơn, vẫn dối gạt quần
chúng, dối gạt thanh niên của họ. Người dân Mỹ vốn tin tưởng thành
phần lãnh đạo do họ bầu ra, cuối cùng cũng đòi biết sự thật bằng
những biểu tình phản chiến. Chỉ những thanh niên nghèo, thiểu số bị
động viên và bị đẩy ra chiến trường, một thiểu số tránh bị động
viên bằng cách tìm ra nước ngoài học. Các cấp chỉ huy tìm cách che
giấu sự thất bại, tự huyễn hoặc đánh lừa mình bằng cách đếm xác
chết địch quân, người lính Mỹ không thể phân biệt ai là thường dân, ai
là người cầm súng, nên cứ giết rồi đếm, cứ thấy ai bỏ chạy thì cứ
cho là Việt cộng rồi giết, càng nhiều xác chết càng thỏa mãn yêu
cầu của các cấp chỉ huy. Càng dấn thân, càng sa lầy, tổng thống Johnson không thấy “ánh sáng
cuối đường hầm” mà vẫn dối gạt người dân.Tuần báo Time (số September
25, 2017) có bài phân tích của Karl Vick (The War That Broke The Country)
đã cho thấy bộ phim của Ken Burns và Lynn Novick vạch rõ Washington cố che
giấu những sai lầm của mình.
Hà Nội cũng vậy.
Chính Hồ Chí Minh, Lê Duẫn từng tuyên bố đánh Mỹ cho đến người Việt
cuối cùng, trắng trợn nói dối với bộ đội của mình rằng người dân
miền Nam đang sống trong kềm kẹp của Mỹ Ngụy, người dân không có cơm
gạo, thiếu thốn, đang mong chờ bộ đội từng ngày đến giải phóng.
Thanh niên ở phía bên kia vĩ tuyến 17 tin tưởng tuyệt đối vào những
gì lãnh đạo của họ nói, chính quyền đã đẩy cả trẻ con vào bộ đội.
Họ liều mình vui vẻ đi vào chỗ chết, nhưng họ thuộc thành phần
nghèo trong xã hội, không có lựa chọn nào khác, ai đã từng sống
trong chế độ cộng sản, hiểu thế nào là tem phiếu, hộ khẩu. Những hình
thức đó đã tác dụng thế nào lên
cuộc sống thường ngày của người dân, con em trong nhà trốn nghĩa vụ
quân sự, gia đình bị cắt mọi quyền lợi, nhu yếu phẩm vốn rất khiêm
nhường trong xã hội, làm sao họ sống? Người dân bình thường ở các xứ tư bản
không thể hiểu được. Còn con cháu của lãnh đạo, họ được đưa đi học
ở Liên Xô, Đông Đức. Sau 75, người ta cũng thấy cảnh tương tự, con của
nông dân, thợ thuyền đến tuổi, luôn vinh quang trúng tuyển nghĩa vụ
quân sự đi đánh nhau ở Kampuchia, chết thay cho con em cán bộ có quyền.
Và trên hết, cách tuyên truyền tinh vi của cộng sản làm người dân
không có sự suy nghĩ khác, cũng không có cách diễn tả khác, từ trên
xuống dưới nói y hệt như nhau, dù là cán bộ chính trị ở trung ương
hay một bộ đội địa phương, từ những trại học tập cho binh lính miền
Nam đến những bài học tập chính trị ở trường học công sở, cho đến
những buổi tuyên truyền chính trị trong dân chúng ra rả trên các loa
phóng thanh công cộng, thậm chí cả
những người trí thức, có bằng cấp, học vị, dù trong nước hay ngoài
nước, họ đều nói y như nhau… Chẳng hạn, ai cũng nói “đế quốc Mỹ xâm
lược nước ta, Mỹ là tên sen đầm quốc tế, đánh cho Mỹ cút ngụy nhào,
quyết tâm đánh Mỹ ngụy cho đến thắng lợi cuối cùng…” Người cộng sản
đã thành công trong việc nhào nặn mọi người nói một kiểu, con người trở
thành máy nói, nói theo đúng một công thức, nói y như câu mẫu từ bộ
chính trị. Nhưng họ không nói đúng sự thật. Thất bại của họ ở Mậu
Thân 1968 là một, cuộc thảm sát ỡ Huế trong trận Mậu Thân là một
thí dụ khác. Đến bây giờ họ vẫn nói dối là không có cuộc thảm
sát, đó là do miền Nam tuyên truyền. Phim The Vietnam War (episode 6) đã
nêu rõ sự dối trá đó khi phỏng vấn được những cán bộ tham dự đã
thừa nhận có sự thảm sát hàng ngàn người dân vô tội. Có lẽ vì vậy
mà chính quyền Việt Nam không dám cho công chiếu trọn bộ bộ phim này
ở Việt Nam. Họ vẫn còn tiếp tục che giấu.
Miền Nam cũng vậy! Như
đã nói, khoảng thời gian từ 1964-1970, tôi đang học đại học ở Saigon,
ở cái tuổi hình thành dần cho mình một nhận định về xã hội, một
nhân sinh quan, thì đó lại là khoảng thời gian kinh khủng nhất của
cuộc chiến. Thông tin nhiều quá, thậm chí có nhiều thứ trái ngược
nhau. Hàng ngày, trên báo chí, đài phát thanh đầy dẫy những tin tức
chiến sự khốc liệt. Thiệt hại của bên này hay bên kia, cao hay thấp
là tùy theo nguồn tin nào. Người ta đã thấy chiến tranh len vào các
thành thị của miền Nam, cộng sản pháo kích hỏa tiển 122 ly bừa bãi vào
thành phố, trúng đâu đó chịu, đặc công đánh bom vào các phòng trà,
vũ trường có lính Mỹ lui tới. Thanh niên sinh viên hát những bài hát
đầy tính chiến đấu, cũng như những tình ca rất ủy mị bên cạnh những
bài hát phản chiến, những “ca khúc da vàng” của Trịnh Công Sơn bên
cạnh những bài hát du ca của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Trầm
Tử Thiêng…Thanh niên chúng tôi nghe và biết những tệ trạng, bê bối tham
nhũng của chính quyền, người ta phải bỏ tiền ra để “mua” ghế tỉnh
trưởng hay quận trưởng nội thành, những vụ buôn lậu có còi hụ ở
Long An, buôn lậu bằng Air Vietnam, những tệ nạn lính ma, lính kiểng…nhưng
đồng thời cũng nhìn thấy kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, xã hội… của
miền Nam mỗi ngày một hay hơn, những thành quả dân chủ ngày một củng
cố, người dân có quyền ứng cử và bầu cử… Thì cũng có những gian
lận bầu cử đó, nhưng ít ra người dân vẫn có thể đồng ý hay phản
đối chính quyền. Người ta vẫn thấy có những cuộc xuống đường của
học sinh, sinh viên, của phật tử, của thương phế binh đòi quyền sống…
Mỗi lần xuống đường là chạm mặt với cảnh sát dã chiến, với lựu
đạn cay, với dùi cui. Người dân ghi
nhận tất cả những hình ảnh đó như là một nếp sống dân chủ, chính
phủ không xóa bỏ những hình ảnh đó trên báo chí, trên truyền thanh,
truyền hình.
Càng lùi về sau, khi
người Mỹ đã quá mệt mỏi với cuộc chiến, nhất là lúc miền Bắc
chịu ngồi vào bàn hội nghị Paris về ngưng chiến ở Việt Nam, Mỹ dần
xuống thang cuộc chiến nhưng cũng là lúc Hà Nội đẩy mạnh sức ép
quân sự lên miền Nam, thì cũng là lúc người miền Nam ý thức được
phần nào sự sống còn của họ phụ thuộc vào tính chính danh và sự
cương quyết của quân đội. Thanh niên
lần lượt nhập ngũ. Trung Tâm 3 tuyển mộ lúc nào cũng nhộn nhịp, các
quân trường Quang Trung, Đồng Đế, Thủ Đức…
lúc nào cũng đầy người, chưa kể đến những thanh niên ưu tú,
dấn thân ở Võ Bị Đà Lạt. Người ta
nói đến những trận đánh đẫm máu ở cổ thành Quảng Trị, An Lộc,
Đường số 9… Hai bên Bắc, Nam Việt Nam đều có tổn thất, nhưng Hà Nội
vẫn không đạt được ý họ muốn là giải phóng được hoàn toàn miền
Nam. Trong mỗi trận đánh, người dân giữa hai lằn đạn chạy về phía
Việt Nam Cộng Hòa, không nghe nói tới dân chạy theo Việt cộng. Nhưng
xem chừng ý thức phải tự vệ của miền Nam đến hơi trể và chưa rộng khắp.
Tháng 1 Năm 1973, hiệp
định Paris ký kết, Mỹ phủi tay, rút quân, bỏ mặc miền Nam phải tự lo
liệu vận mạng mình, và tệ hơn nữa Nixon vì vụ Watergate, nuốt lời
hứa với Nguyễn Văn Thiệu sẽ trả đủa Bắc Việt nếu Hà Nội vi phạm,
quốc hội Mỹ nhắm mắt trước lờ hứa của một siêu cường, lạnh lùng cắt
cả quân viện, cấm quân đội Mỹ hoạt động trên khắp Đông Dương. Trên thế giới mọi người tin rằng miền
Nam sẽ rơi vào tay cộng sản chỉ là chuyện ngày một ngày hai. Thế mà
cái đám miền Nam cứng đầu đó không chịu chết (như lời của Henri
Kissinger than thở) dù trung ương tham nhũng, thối nát và thiếu khí
tiết. Không có quân đội, cố vấn Mỹ bên cạnh, quân đội miền Nam vẫn kiên
cường chiến đấu, chống đỡ với cộng sản với trang bị dồi dào của
Liên Xô, Trung cộng. Phải đến hai năm sau, 1975, miền Nam mới rơi hoàn
toàn vào tay cộng sản, sau khi tướng, tá, viên chức cao cấp trung ương
tháo chạy khỏi con tàu đang chìm, họ quen dựa vào bầu sữa của Mỹ.
Một số buông súng theo lệnh của Dương văn Minh trong uất ức, hoặc tự
vận vì thấy mình không làm tròn được trách nhiệm với Tổ Quốc. Và
trong đoàn quân chiến thắng đó, đã có người ngỡ ngàng khi thấy một
xã hội miền Nam, thịnh vượng hơn, dân chủ hơn, văn minh hơn xã hội
miền Bắc gấp bội.
Cuộc chiến này xé
nát xã hội và gia đình Việt. Gia đình tôi có một người quen, là đại
úy quận trưởng một quận ở tây bắc thị xã Phan Thiết. Những lúc về
tỉnh nhận chỉ thị ông thường ghé nhà tôi nghỉ ngơi. Có lần ông nói
với tôi – lúc đó chỉ mới 17 tuổi : “ Cháu nhìn xem, từ đầu đến chân
của chú, mọi thứ là của Mỹ, giày vớ, quần áo, súng đạn, cái gì
cũng của Mỹ. Kể cả thức ăn, thuốc hút… cái gì cũng từ Mỹ. Ngày
nào Mỹ không viện trợ nữa, lấy gì mà đánh?” Ông tử trận trước khi
thấy nhận xét của mình đúng. Tôi cũng có một người cậu, em bà con
của Má tôi, cậu theo Việt cộng từ hồi còn là một thiếu niên. Sau 75,
cậu về thăm, cũng không thấy cậu hào hứng gì cho lắm cái thành quả
của cộng sản trong công cuộc giải phóng, có lần cậu nhận xét “dân ở
tỉnh thành không ưa Việt cộng, ngày nào họ nổi dậy, có lẽ cậu cũng
phải ném cái nón cối trên đầu để tránh bị nhận diện”. Khi tôi định
đưa Ba Má và em tôi về Vĩnh Long, cậu nói: anh chị theo cháu mà đi đi,
càng xa cái tỉnh hắc ám, chỉ gồm đám Nam Ngãi Bình Phú, này càng
tốt. Trong Nam, người ta hiền hơn.
Trong cuộc chiến Việt
Nam, chính phủ Mỹ dối gạt người dân, đẩy thanh niên vào một trận
chiến không lối thoát, những GI của Mỹ không hiểu tại sao họ phải
sang Việt Nam, phải ném bom, phải bắn vào những người trước mặt họ,
kể cả người già, đàn bà và trẻ con. Hà Nội đẩy hàng hàng lớp lớp
vào Nam, xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ cứu nước mà vẫn dối trá bảo
rằng không có quân dội Bắc Việt ở chiến trường miền Nam, bao nhiêu là
tử sĩ miền Bắc chết với hàng chữ xâm trên cánh tay “Sinh Bắc, Tử
Nam”. Chính quyền miền Nam tham nhũng, quen chờ người Mỹ chi tiền,
không có nỗi một sách lược, cũng đã đẩy hàng vạn thanh niên vào quân
đội, trong khi con ông cháu cha, kẻ có tiền, có quyền thế trốn lính.
Nỗi bi thảm là ai
cũng cho mình chiến đấu cho Chính Nghĩa.
Tháng 9 – 2017