Hai Quan Niệm Sống
Trong một lớp triết học, vị giáo sư già kể chuyện: Một doanh gia giàu có
đi du lịch, ông dừng chân cạnh một dòng suối, nước chảy trong veo, đổ vào một
hồ nhỏ tĩnh lặng. Một người đàn ông trung niên ngồi câu, cảnh đẹp như tranh vẽ,
khung cảnh tĩnh mịch, nên thơ. Doanh gia đến gần gợi chuyện:
-
Chào ông, cảnh đẹp quá
ông nhỉ!
-
Thưa vâng.
-
Ông câu có khá không?
- Được vài con, đủ cho cả nhà dùng trong ngày.
Doanh gia ngắm nhìn trời đất, cả hai cùng yên lặng…
- Nhà ông ở đâu?
- Trong xóm nhỏ dưới kia.
- Ông làm gì để sống?
- Tôi làm ruộng, nhờ trời cũng đủ sống.
- Thế ông làm gì khi không phải ra đồng làm ruộng?
- Tôi nghỉ ngơi, thăm thú nơi này nơi kia, hay như ông thấy đó, nhàn tàn
ngồi câu cá…
Trầm
ngâm một lúc, doanh gia lại lên tiếng:
-
Thấy ông cũng còn trẻ,
sao ông chuyển đến sống nơi phố thị đông
đúc, kiếm được việc làm dễ dàng hơn?
- Để làm gì, thưa ông?
-
Có việc làm, ông có cơ
may kiếm được tiền nhiều hơn, và nếu may mắn, ông có thể làm chủ cửa hàng, xí
nghiệp… ông có thể phát triển hãng xưởng thành những đại công ty do ông làm
chủ…
-
Được vậy để làm gì?
-
Được vậy, ông sẽ có
cuộc sống phong lưu hơn, sung túc hơn. Ông có nhiều tiền bạc,
của cải, lúc đó ông sẽ có nhiều thì giờ hơn… ông sẽ có dịp và có điều kiện thăm
thú các nơi, hưởng trọn cuộc sống an lạc thoải mái.
Người nông dân quay
lại và hỏi:
-
Vậy, thưa ông, ông
nghĩ là tôi đang làm gì đây?
Câu chuyện ngừng ở đó. Cả hai người trong câu chuyện đều đến cùng một mục
đích: vui hưởng cuộc sống an lạc thoải mái. Hai người: doanh gia và
người nông dân ngồi câu trong câu chuyện đi đến mục đích của mình bằng hai cách sống
khác nhau: một đàng cố gắng làm việc cần cù, tích lũy, suy nghĩ phát triển, làm
giàu rồi dùng tiền bạc của mình để hưởng những gì mình muốn; đàng khác, chỉ làm
đủ sống, thì giờ còn lại vui hưởng những gì đến với tầm tay mình, không ham
muốn, không đòi hỏi.
Bạn và tôi, chúng ta có thể có những quan niệm sống giống một trong hai
người trong câu chuyện, cũng có thể không hẳn như người này hay như người kia,
mà có một quan niệm trung dung hơn, cũng làm việc, cũng kiếm tiền, phát triển…
và biết ngừng lại khi mình cho là đủ: tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời
túc?
Vấn đề vẫn là: tới bao nhiêu thì mình cảm thấy ĐỦ. Cái đủ của người này sẽ
không là cái đủ của người khác. Nói khác hơn, câu chuyện nói trên vẫn chỉ mãi
mãi là một chuyện ngụ ngôn, không hơn không kém.
Bạn có thể nghĩ tôi nói chuyện nước đôi, Ất cũng đúng mà Giáp cũng phải.
Nhưng xin nghe hết ý kiến của tôi, rồi mỗi người chúng ta tự rút ra kết luận
cho chính mình.
Bây giờ mời bạn nghe một chuyện khác:
Có hai quốc gia, gần giống nhau về hoàn cảnh địa dư, dân số. diện tích
khoảng 500000 kilomet vuông, dân số 100 triệu, có biển, có rừng, có khoáng sản,
nông sản, hải sản… Trong số 100 triệu dân này có một nửa (50 triệu) là đang lao
động. và gọi tên là quốc gia ABC và XYZ. Người dân trong nước ABC có quan niệm
như doanh nhân, và người dân trong nước XYZ có cách sống như người nông dân câu cá trong câu chuyện “ngụ ngôn” nói trên.
Người dân ABC làm việc 40 giờ một tuần, mỗi giờ 60 phút. Trong lúc làm
việc họ luôn tìm cách tự vận động mình làm cho tốt hơn, và sản phẩm do mình hay
tập thể của mình tạo ra (dù vật chất hay tinh thần) hay hơn, hữu hiệu hơn, phẩm
và lượng ngày càng cao hơn.
Người dân XYZ với bản chất chỉ thích kiếm cho đủ sống, nên mỗi tuần chỉ
làm 30 giờ, mỗi giờ lao động tà tà 60 phút hay ít hơn, chỉ làm đủ để tự nuôi sống và nuôi gia đình…
Tất nhiên người XYZ an nhàn hơn và người ABC bận rộn hơn. Nhưng…
Sau một thời gian, một năm hay mười năm, bạn có thể hình dung được hai
nước ABC và XYZ sẽ khác nhau ra sao.
Của cải vật chất của ABC sẽ dồi dào hơn, cuộc sống sẽ sung túc hơn, dễ
dàng hơn.
Ở XYZ, người ta không chế ra nổi cây đinh, con ốc… ở
ABC người ta sẽ tạo ra smart phone, computer. Ở XYZ, người ta chỉ đóng được
những con thuyền đơn giản đánh cá ven bờ, chiếc xe thô sơ để di chuyển, còn ở
ABC, người dân có điều kiện để có những đại công ty, có những đội tàu thuyền đánh
bắt cá ngoài khơi, di chuyển gần thì bằng xe, xa thì tàu hỏa, máy bay. Ở XYZ,
người ta không có điều kiện để có đủ binh lực để tự vệ, ở ABC, người ta chế tạo
hỏa tiển, vũ khí, tàu chiến…
Làm một con toán đơn giản, chỉ sau một năm, người dân ở ABC có được 48
tuần làm việc x 40 giờ mỗi tuần x 50 triệu lao dộng, tính ra được 96000 triệu
giờ, còn ở XYZ chỉ được 72000 triệu giờ.
Số sai biệt 24000 triệu giờ trong một năm sẽ làm khoảng cách giữa hai quốc gia
này ngày càng lớn. Và con số đó lớn đến bao nhiêu sau mười năm, hai mươi năm?
Đó là chưa kể đến thái độ (phải) tích cực lao động trong xã hội ABC và tinh
thần (thích) làm việc cầm chừng ở XYZ. Tất nhiên ở XYZ người ta có thể mua
computer, máy bay từ ABC, nhưng trước hết phải có tiền, và cũng tất nhiên, người
ABC có thể tạm thời ngừng công việc, đi du lịch hưởng thú an nhàn khi thấy cần.
Bây giờ chúng ta hiểu vì sao, các vua quan triều Nguyễn và nhà Thanh bên
Tàu đã không chịu nổi áp lực chiếm thuộc địa của các nước tây
phương, và cũng hiểu vì sao chỉ trong mười năm, một nước Nhật bại trận, tàn phá
vì chiến tranh lại có khả năng hồi phục nhanh như vậy, còn Việt Nam chúng ta,
ba mươi lăm năm sau khi thắng trận với một nửa nước còn gần như nguyên vẹn,
kinh tế lại thụt lùi đến như vậy. Sau
tháng Tư 1975, hai triệu người Việt bỏ nước ra đi, gần một triệu người lao động
nơi xứ người, hòa nhập vào lối sống của các nước dung chứa, đã tạo ra bao nhiêu
của cải vật chất, tinh thần và bây giờ lại là cái phao cứu sinh cho chính quyền
hiện tại ở Việt Nam khi lượng kiều hối
mỗi năm gửi về (tính chính thức) lên tới mười tỉ Mỹ kim.
Chúng
ta không nên so sánh Việt Nam với bất cứ ai, chỉ vì tinh thần làm việc của người
Việt chúng ta không giống với bất cứ dân tộc nào khác. Việt Nam có thể có những
tương đồng về địa dư, tài nguyên với vài quốc gia khác, người Việt thông minh,
cần cù… nhưng không vì vậy mà hỏi tại sao ta không bằng người.
Có
câu nói: “dân tộc nào, số phận nấy”. Chúng ta nghèo đói, lạc hậu, chịu thân phận
nhược tiểu… chính là do tinh thần dân tộc của ta.
Ngày trước, năm mươi tuổi là tuổi lui về hưởng nhàn, nhường công việc lại
cho con cháu sau khoảng ba mươi năm làm việc. Ở thời đại ngày nay, người ta làm
việc trể hơn. Để làm gì? – chỉ vì người ta thấy chưa phải lúc hưởng nhàn. Do
vậy, chúng ta thấy ngay, hưởng thú an nhàn còn tùy thuộc vào tuổi tác, sức
khỏe, thời giờ và … cả khả năng vật chất.
Chúng ta cũng chưa nói đến khả năng “cho
ra” của người giàu. Nếu nghèo chúng ta chỉ có thể giúp được ý, nhưng nếu chúng
ta giàu, cúng ta có khả năng giúp được cả ý tưởng lẫn vật liệu tiền bạc. Tất
nhiên, không phải ai giàu cũng có lòng nhân, nhưng rõ ràng là nếu người có lòng
nhân và giàu có thì sự giúp đỡ sẽ hữu hiệu hơn. Chúng ta hiểu rõ điều này hơn ai
hết. Bỏ qua một bên những ý kiến khác nhau về chính trị, nếu nghèo chúng ta
không giúp được gì cho anh em họ hàng, thậm chí cũng khó giúp người hoạn hạn, neo đơn, trẻ mồ côi… không thể đóng góp cho chùa, nhà
thờ nuôi giúp kẻ khó, không liên kết được thành những hội đoàn vô vụ lợi để xây
lớp học, đóng bàn ghế cho nơi này, giúp học bổng cho những thanh niên không
điều kiện để họ tiếp tục việc học, đào giếng sạch, giúp chữa bệnh cho nơi khác…
Chúng ta chỉ lo đủ cho bản thân và gia đình, phần còn lại không màng đến. Trong cuộc sống, chúng ta từng nghe đến những quỹ
Rockefeller, Ford…giúp cho những công trình nghiên cứu trong mọi lãnh vực, tỷ
phú Bill Gates, Warren Buffet đã cho đi một phần tài sản của mình cho các nghiên cứu về y tế, đẩy lùi bệnh tật, không phải cho nước Mỹ mà cho các
nước kém phát triển, nghèo đói của Phi Châu…biết bao nhiêu triệu phú hàng năm đã bảo trợ cho các nghiên cứu tìm tòi tại các trường Đại học. Hay xa hơn, Alfred Nobel đã hiến
hết tài sản mình cho các giải thưởng mang tên ông, tặng cho những cá nhân hay
tập thể đã cống hiến cho nhân loại những thành quả trên mọi lãnh vực.
Không nói đâu xa, ở Việt Nam một Chú Hỏa cần cù, tích lũy, khi giàu rồi cũng xây cho Saigon nhiều công trình để đời:
Không nói đâu xa, ở Việt Nam một Chú Hỏa cần cù, tích lũy, khi giàu rồi cũng xây cho Saigon nhiều công trình để đời:
Ông khởi nghiệp từ việc buôn bán ve chai, về sau ông
đổi tên thành Jean Baptiste Hui Bon
Hoa khi trở nên giàu có. Thành lập công ty Hui Bon Hoa, có thời là công
ty bất động sản lớn sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn đồng thời xây dựng rất
nhiều công trình có giá trị lớn ở vùng Sài Gòn-Gia Định
vẫn còn tồn tại đến ngày nay (khách sạn Majestic, bệnh viện Từ Dũ, Bệnh Viện Đô
Thành…) các công trình này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình
thành bộ mặt thành phố Sài Gòn. Chú Hỏa là một trong người giàu có nhất miền Nam
Việt Nam và là một người có tấm lòng hướng ra cộng đồng. Nhà biên khảo Vương Hồng Sển từng nhận xét: "Tuy làm
giàu cho mình đã đành, nhưng cũng giúp ích rất nhiều cho sự mở mang thịnh vượng
kinh tế miền Nam". Sự nghiệp của ông ở Việt Nam vẫn được con cháu tiếp tục
sau khi ông mất, đến sau năm 1975 thì ngừng do họ đều đi ra nước
ngoài sinh sống, (Theo Wikipedia)
Trái lại, nếu không
giàu, chúng ta chỉ có thể hữu ích cho bản thân hay cùng lắm cho gia đình. Đúng
là thú an nhàn không dành riêng cho ai. Bất kể giàu nghèo ai cũng có thể hưởng
nhàn, bất cứ ở đâu, bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng chỉ khi cần, nếu không có khả năng, ta mới thấy mình không giúp gì được cho ai…Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo
cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy
nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao…(Hịch
Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo - Trần Trọng Kim dịch) chừng đó với ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân
tử ăn chẳng cầu no, đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường
bỏ ngõ (Hàn Nho Phong Vị Phú- Nguyễn Công Trứ) chẳng giúp được gì cho làng
xóm, xã hội, dân tộc.
Trước
75, cả hai miền Việt Nam đều có chỗ đứng trong mắt thế giới, không thua Thái
Lan, Hàn Quốc…, còn ngày nay chúng ta ở đâu so với các láng giềng?
Xét cho cùng, được sống an lạc vẫn là mơ ước của mọi người.
Câu hỏi vẫn là: Đến đâu được coi là ĐỦ và lúc nào có thể
hưởng một cuộc sống an lạc.
Câu trả lời sẽ tùy ở quan niệm sống của mỗi người.
Hòa Đa – Tháng 3-2014