vài
cảm nghĩ về tình tự dân tộc:
nét đặc sắc bị bỏ quên:
Nói lái
Hòa đa
Tôi không phải là một nhà
ngôn ngữ học, nhưng có nhận xét này, mà khi chia xẻ với nhiều người Việt Nam,
tôi luôn có sự đồng
tình: Nói lái là một hình thức vô cùng
độc đáo của ngôn ngữ Việt.
Bạn
có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại
phong là lọ tương chưa?
-
Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật)
lo, tượng lo là lọ tương.
Một
giai thoại khác, ở trong Nam. Lúc ấy,
vào buổi tàn thời của nho học, người ta bỏ bút lông, giắt bút chì; một số chạy
theo thực dân Pháp. Trong số ấy có
Nguyễn văn Tâm, một lòng cúc cung với
mẫu quốc, được người Pháp cất nhắc làm quan lớn; trên dưới trong ngoài, ai cũng biết nhờ bợ đỡ
quan thầy mà làm quan to. Tâm lấy làm tự đắc lắm. Phú quí sinh lễ nghĩa, quan lớn nhà ta cũng
muốn tỏ ra mình phong lưu, muốn có những bức hoành, trướng để trang trí. Có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại
Điểm Quần Thần, viết chân phương, rất đẹp và giải thích Quần thần là
người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý
nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn, quan trọng trong triều. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong
phòng khách; ai đến thăm quan cũng đem khoe và giải thích như trên. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi
xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên
hỏi, người ấy xin đừng bắt tội, đuổi hết tả hữu rồi giải thích: người viết liễn
đã cố ý bỡn quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm
là chấm to; Quần thần là bề tôi, nói
theo kiểu trong Nam là bầy tôi. Đại Điểm
Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói
lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng
nghe chuyện kể nói quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay vì không
muốn làm vỡ chuyện mà ỉm luôn.
Trong đời sống hàng ngày, chẳng hiếm khi chúng
ta gặp những câu nói lái, đôi khi chỉ để bỡn cợt, châm biếm hay tránh những
tiếng thô tục.
Ở
Nam Bộ, có câu :
Con cá
đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo
Anh mà đối được, dẫu nghèo em cũng ưng.
***
Người Việt, đối với những người lớn
tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy
theo gốc gác hay sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau;
nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà
người nghe, vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra như trong giai thoại Đại
Điểm Quần Thần kể trên.
Đi
sâu hơn vào chi tiết: một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chữ tranh
chẳng hạn gồm phụ âm tr và âm anh. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc,
huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần
khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: tranh,
tránh, trành (trong tròng trành) trạnh
(trạnh lòng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của
ngôn ngữ Việt, người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát.
Cũng có chữ không có phụ âm
mà chỉ có âm, như trong ảnh ương hay
ảo ảnh...
1. Nói Lái theo cách ngoài Bắc
Trở lại câu chuyện đại phong là lọ tương nói trên. Tượng lo
nói lái lại là lọ tương, người miền
Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ,
tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu
nặng thành tương.
Ta lấy vài thí dụ khác:
đấu tranh nói lái lại là tránh đâu:
tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh,
mang dấu của tranh (không dấu)
thành đâu.
hải phòng nói lái lại là phỏng hài:
hải đổi chỗ cho phòng lấy dấu
huyền của phòng thành hài, phòng đổi
chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành
phỏng.
Cứ theo cách ấy thì:
Sầm Sơn sờn
sâm
Thái Bình nói lái là bính
thài
Giải phóng phỏng giái
Hà Nội nồi
hạ
vv.. và vv..
Như vậy thì hai chữ có cùng
dấu không nói lái được, như nhân dân, anh
em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật.... Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng....không
thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị
trí cho nhau thôi.
2. Nói lái theo kiểu trong Nam.
Trong Nam người ta nói lái
theo cách khác: cá đối nói lái lại
thành cối đá.
Ta nhận thấy theo cách nói
lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ
âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á thành
đá. Như vậy:
Sài gòn sòn
gài
Cần thơ nói lái là cờ
thân
Cầy tơ cờ tây
Cửu long cỏng
lưu. (dân trong Nam phát âm như cỏng lu)
Thủ Đức thức
đủ v.v... và v.v...
Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là
chữ nói lái của tên thật của ông: Nguyễn Thứ
Lễ. Ngày trước đã có vế đối:
Ngày Tết, Thế Lữ đi
hai thứ lễ: lễ ta và lễ tây
Trong vài trường hợp người
ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt
biến thể thành dấu sắc trong mút),
như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a.
Đôi khi người ta lại đổi chỗ
hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn,
thí dụ chiến binh thay vì nói lái
thành chinh biến cũng có thể nói
thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh
đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.
Cũng như trong trường hợp
trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù
đù, lật đật...không nói lái được.
Ngoài ra còn một cách nói
dựa trên nói lái kiểu trong Nam, không mấy người quen sử dụng. Trong cách này,
người nói ghép từng chữ (trong nguyên câu) với một chữ (đã được qui ước trước
giữa hai người) rồi nói lái hai chữ này với nhau. Cách này tương đối khó, và thường gặp trong
giới bình dân lao động, ít học (không biết có phải vì vậy mà không được biết
đến nhiều chăng?) Thí dụ với câu:
"hôm qua tui đi ra đầu ngõ chờ em
tới, mà đợi hoài không thấy..."
họ ghép từng chữ của câu trên với chữ lý rồi nói lái lại, và do đó câu trên trở thành :"hi lôm qui la ti lui đi li ri la đi lầu nghi
lõ chi lờ i lem ti lới , mi là đi lợi hi loài khi lông thi lấy..." họ nói chuyện với nhau rất nhanh và hiểu nhau
dễ dàng, như thể đã được mã hóa người
khác không nhận ra được. Đây là cách vô cùng độc đáo mà chưa được khai thác
đúng mức.
3. Vài giai thoại - câu đối - câu đố
Chúng ta đã thấy
giai thoại về Đại điểm quần thần, Đại phong ở trên. Chúng ta cũng thường nghe nói đến câu tiếng
lóng hạ cờ tây là hạ cầy tơ của dân nhậu trong Nam và mộc tồn (= cây còn, nói lái thành con
cầy) ở ngoài Bắc, hay những lối nói lái rất quen thuộc: chín bến đò (chó bến đình) Hương
bên đèo (heo bên đường) theo con
Hương (thương con heo). Bạn đã nghe
mấy chàng nhậu trong Nam nói đùa: "Tửu
phùng tri kỷ thiên bôi thiểu"
cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa "rượu gặp tri kỷ có trời
mới biểu (bảo) thôi" (thiên = trời,
bôi thiểu = biểu thôi)....
Ở đây chỉ xin kể lại vài
giai thoại mới có sau 75.
- Hồi cuối thập niên 80,
Nguyễn văn Linh, tổng bí thư Cộng sản Việt Nam phát động chương trình đổi mới,
thường hay nói đến đổi mới tư duy (đổi mới sự suy nghĩ của đảng viên cho kịp
với trào lưu mới), người dân trong Nam ưa nói thành "đổi mới ti vi" (do cách phát âm dễ dãi
của dân nam bộ) mà cũng đúng, bấy giờ cán bộ Cộng sản bắt đầu thay TV trắng đen
thành TV màu. Có lần, quanh bàn cà phê
đầu hẽm, người ta nghe thấy câu hỏi: "bây giờ đổi mới ti vi rồi, chừng
nào mình đổi mới tủ lạnh đây?" (tủ
lạnh nói lái thành lãnh tụ). Nghe
mà lạnh mình!
- Sau đó ít lâu, người ta
lại thấy xuất hiện trên cửa miệng của người dân miền Nam và trên vài tờ báo
trào phúng hai nhân vật Vũ như Cẩn, Bùi
Lan để chế nhạo chuyện cải tổ nửa chừng của đảng Cộng sản Việt Nam khi họ
siết chặt lại báo chí khi thấy có những phản kháng bất lợi cho đảng; vũ như cẩn và bùi lan nói lái thành vẫn như
cũ và bàn lui
Những giai thoại như vậy
còn nhiều...
Về
câu đối, xin trở lại câu ca dao trên:
Con cá đối nằm trên cối đá.
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng
ưng.
được đối là:
Chim mỏ kiến(g) nằm trong miếng cỏ
Chim vàng lông đáp đậu vồng lang
Anh đà đối đặng hỏi nàng ưng chưa?
Phải
công nhận là câu đối và câu đáp không chê vào đâu được, chắc gì chúng ta tìm
được câu trả lời nào hay hơn cho cô gái tinh nghịch này.
Trong một đám cưới, có người đọc đùa câu đối:
Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
Gái Gò Công vừa gồng vừa co.
và:
Trai Củ Chi chỉ cu - Gái Đôn Lò đo l...
(Đôn lò là tên một kinh đào trong Nam)
Một
câu khác, nghe chừng như xuông miệng nói chơi, nhưng lại đối rất chỉnh, trong
cả hai vế đều dùng cách nói lái:
Kia
mấy cây mía
Có
vài cái vò
Một
câu đối khác, nghe được sau 75, lúc mọi người dân trong Nam không còn gì để
sinh sống, đặc biệt là giới thầy cô thuộc chế độ cũ được lưu dụng. Dầu gì chăng nữa, trước đó họ là lớp người
tuy sống nhờ đồng lương cố định, nhưng cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ. Sau khi Cộng sản lấn chiếm miền nam vài năm,
người ta nghe thấy hai câu đối tết, nhại theo Tú Xương ngày trước, nhưng rất
đặc sắc và chua xót:
Chiều
ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ
bán
Sáng
mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân
sang.
Thực tế là giày không còn là
một phần trong y phục của thày giáo, nhưng cháo đã là phần lương thực thường
thấy trong bữa ăn hàng ngày.
Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố
chiếm một vị trí tuy khiêm nhường nhưng có sức sống tuơng đối mạnh mẽ so với hò
đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn
thấy hò đối đáp trong sinh hoạt hàng ngày của người bình dân. Trong các dạng
câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong những cách tuy dễ
nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít.
Sau đây là vài câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:
-Tổ kiến, kiển tố, đố là chi? - tổ kiến
-Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai
Bò la, bò liệt đố ai biết gì?
- khoai
lang.
Những chữ mũi, lái, khứ, lai
chỉ cốt để đánh lừa người bị đố
-Con gì ở cạnh bờ sông,
Cái mui thì nát cái cong thì
còn - con
còng (cong còn nói lái thành con còng)
- Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng -
ngón chưn cái
- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn
- con ngựa
- Miệng bà ký lớn, bà ký banh
Tay ông cai dài, ông cai
khoanh -
canh bí, canh khoai
...
Một
vài người cũng câu nệ về nói lái, tránh đặt tên con những chữ có thể nói lái
thành thô tục như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d: thái dọt, thái dúi, thái
dòng...) Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như lài dồn, lài cồn, lài mồn...) Côn, Tôn,
Đôn (ghép với chữ có phụ âm l) v.v.. và v.v..
4. Vài suy nghĩ
Qua
những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng
Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố,
câu đối, để tránh những thô tục, hay có khi cố ý ghép chữ dể hạ thấp người
khác.
Bỏ
qua một bên những cái độc đáo, lắt léo của nói lái trong câu đố, câu đối; để
chỉ chú ý đến phần đông các trường hợp chúng ta sử dụng nói lái như là một hình
thức hạ thấp người khác. Trong phần trên
chúng ta đã thấy nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan
to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại
Đại Điểm Quần Thần, hay quần chúng đã nhạo báng chế độ Cộng sản qua nói
lái.
Chúng ta đã dùng nói lái như
một thứ vũ khí của người muốn dùng tiểu xảo để chống đối, để chứng tỏ mình hơn người,
như một thứ vũ khí của kẻ yếu, kẻ bị trị để bôi bác, nhạo báng, ám chỉ... để hạ phẩm
cách của kẻ mạnh, kẻ thống trị. Nhưng tại sao chúng ta có những cách rất tiêu cực như vậy? - Phải chăng vì hoàn
cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang
hay của chính người đồng chủng. Người
dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của kẻ thống
trị. Về lý, không thể bắt tội một người
khi họ muốn đổi mới tủ lạnh của họ được, nhưng ai cũng biết người ta muốn ám
chỉ gì. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là chúng ta có nên duy trì mãi
những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta
không? Ai cũng thấy rõ một điều là sức
sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện
những tiêu cực vô cùng tai hại. Chính vì
chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực của
tập thể cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại lâu trong vị trí
và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta bị trị lâu đến như vậy.
Dù
vậy, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn nhữ Việt, với khả
năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc... (và chúng ta chỉ nên khai
thác khía cạnh tích cực này), chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người
Việt.
Tháng
10 năm 2000
Viết lại tháng 2 năm 2014