HAI CẢNH ĐỜI
Hòa Đa
Tôi
về Việt Nam lần này là lần thứ ba sau hơn hai mươi năm xa xứ, cách lần trước bốn
năm. Về để cảm nhận được sự thay đổi của
người dân và của Saigon. Thành phố vẫn đầy bụi và nóng bức, dù đang tiết xuân.
Tuy vậy, Saigon bây giờ trật tự hơn bốn năm trước và cũng có vẻ khang trang hơn
nhờ các công trình xây dựng đường xá và cao ốc, Xa lộ Đông Tây đã đưa vào sử dụng,
tuy rác rến hai bên đường vẫn còn bừa bãi, nhất là về phía Chợ Lớn. Đèn giao
thông nhiều hơn (tuy thiếu hữu hiệu) và người Saigon bây giờ biết ngừng lại khi
đèn đỏ nhưng lại sẳn sàng xông vào đoàn xe chiều ngược lại khi đèn bật xanh để rẽ
trái vì đèn lưu thông thường không có dấu quẹo trái, tạo thành cảnh bát nháo mà
ai ở nước ngoài về cũng thấy sợ.
Những
ngày trước Tết, người Saigon tất bật mua sắm, một năm chỉ có một lần mà! Hàng
bán mỗi nơi một giá, người bán kẻ mua cò kè, xem cũng vui mắt. Ba mươi Tết, chậu
mai vàng khá bề thế, người bán hét giá bảy triệu, kẻ mua trả ba triệu rồi bốn
triệu. Đâu có giá rẻ vậy chú Hai, chú coi
cây đầy búp, bảo đảm mùng một là nở rộ - Đàng kia cây còn sung hơn mà chỉ
ra giá năm triệu… - Chú hai mua giùm, giá
này là phải rồi, tui muốn bán cho xong đặng lui ghe sớm, còn lo sắm sửa cho
ngày Tết nữa chớ…
Tôi
nhẩm tính, một cây mai, dù có đẹp, phải mua với giá hai ba trăm đô (trước Tết
Tân Mão, giá chợ: một đô ăn hai chục ngàn năm trăm) xem ra người Saigon không
nghèo lắm khi muốn chưng một cây mai cho ra vẻ Tết. Giá một ký thịt (heo) đùi
khoảng một trăm bốn mươi ngàn, đâu kém gì “thịt Mỹ”?
Và
người ta vẫn kẻ mua người bán như điên!
Nhà
tôi ở thuộc khu lao động bên quận Tám. Đường hẽm bây giờ được “nâng cấp” để
tránh ngập lụt nên nhà cửa hai bên hình như “lùn” xuống. Ai có tiền nâng nền
lên (cao hẳn khỏi mặt hẽm) để chống ngập, làm trần và nền gần nhau hơn, ngó mắc
cười. Ai thiếu tiền, nền nhà cũ còn thấp hơn mặt đường, đành xây cái “đê” nhỏ
trước nhà để ngăn nước vào nhà khi trời mưa, rủi có ngập lụt chút đỉnh, cha con
chồng vợ thi nhau tát. Nhà cửa trong hẽm có xây cất lại, ít lụp xụp hơn xưa nhưng
cuộc sống nghèo nàn và bẩn chật trong xóm ít thấy thay đổi.
Buổi
sáng, thức dậy sớm, khi trong hẽm chưa nhiều tiếng ồn do gắn máy qua lại, tôi
thơ thẩn dọc hẽm. Bên góc hẽm nhỏ hơn, cạnh chỗ tôi ngồi lơ đãng với ly cà phê
quán cóc, một chị bán hàng rong, khoảng bốn mươi, ngồi xệp bên cạnh chiếc xe đạp
khá tồi tàn (bây giờ ở Sài Gòn thấy xe đạp là chuyện khó), đang xếp lại mớ rau
cải, hành ngò, thịt thà… cân lại chỗ thịt này, ngắt bỏ vài lá rau úa. Tôi gặp
chị ngồi đây hai hôm trước rồi. Tôi gợi chuyện:
-
Chị
bán ở đây à?
-
Không
em ngồi tạm, dọn mấy hàng vừa mua được cho gọn gàng, bắt mắt… rồi đẩy xe đi bán
dạo quanh xóm - chị trả lời với giọng Bắc không nặng lắm như mấy cô phát ngôn
viên trên các đài truyền hình.
-
Chị
bán vậy có khá không? - Tôi nảy ý gợi chuyện nhiều hơn
-
Chỉ
kiếm tạm đủ sống thôi bác ạ
-
Mỗi
ngày chị kiếm được bao nhiêu tiền lời?
-
Nếu
bán hết và gặp may, em kiếm được trăm ngàn, hôm nào giời mưa, bán ế, kiếm không
ra ba chục.
-
Như
vậy làm sao đủ sống?
-
Nhà
em đi làm hồ cho người ta, nhưng mấy ngày nay gần Tết không có việc làm, chỉ
mình em kiếm tiền, thì cũng phải chịu vậy thôi.
Tôi hỏi, chị trả lời, cũng không mấy
khi ngừng tay làm việc, chị kể chuyện:
Quê chúng em ở tận mãi ngoài Bắc
Ninh. A, quê hương của Quan họ ấy à? Thưa vâng, nhưng bây giờ chả có ai
hát hò gì nữa đâu bác, còn chăng là trên sân khấu biểu diễn thôi, nhà chúng em
nghèo lắm, chỉ có được vài trăm mét vuông ruộng, thấy người ta vào Nam kiếm ăn
được, vợ chồng bàn tính nhau, để ruộng lại cho chú em, giật ít vốn, rồi xuôi
Nam kiếm sống. Vậy anh chị vào đây lâu
chưa? Cũng bảy năm rồi bác ạ, nhà em mãi hơn năm sau mới kiếm được chân làm
hồ, khi nào chủ có việc thì gọi đi, em thì xoay được ít tiền, sáng ra các chợ từ
hai ba giờ sáng đón hàng, về bán lại quanh xóm kiếm lời; Anh chị
đã có cháu nào chưa? Vâng, có một cháu trai, vào trong này mới sinh, cháu
đang học Mẫu giáo nhỡ, mấy năm trước cháu còn bé, chúng em còn phải tốn tiền gửi
nhà trẻ để rảnh tay kiếm sống; Rồi anh chị có nhà cửa gì chưa? Có hộ khẩu ở
thành phố không? Làm gì có, bác! chúng em thuê một phòng nhỏ, cùng với hai
gia đình nữa, ban ngày ai cũng đi làm, chiều về chia nhau mỗi gia đình một góc,
chỉ mong có chỗ ngã lưng thôi ấy mà; Sống
như vậy, anh chị có dịp nào quay về thăm quê không? Có một lần, bác ạ, lúc
năm đầu mới vào ấy, chúng em ngừng lại ở Đà Nẳng, không tìm được việc gì làm lại
nhớ quê quá, chúng em liều tốn về thăm, nhưng rồi không tìm được việc gì để sống
ở ngoài ấy, lại vay nóng vào Nam lại, lần này chúng em vào luôn đến thành phố. Thế từ đó đến bây giờ anh chị có về nữa
không? Tiền đâu mà về bác? Hai vé tàu mất khoảng một triệu một chuyến, đó
là ngày thường, còn dịp Tết như bây giờ, giá chợ đen thì vô chừng, mà không dễ
gì tìm được vé. Chúng em ky cóp để dành cả năm, nếu không đau ốm, may ra được
hơn triệu rưỡi. Ốm một trận, đi đời cả vốn liếng. Vả lại chúng em vẫn còn nợ
ngoài ấy, thôi thì đành tha phương, có chút tiền gửi về giả nợ, còn lại lo cho cháu bé. Vả lại
ở đây còn có chút bỏ vào mồm, ngoài quê em ấy, ngày đông tháng giá, có khi
không có gì ăn. Bác xem, cả làng cùng nghèo cả thì có ai có việc mà mượn mình
làm. Còn ra tỉnh kiếm việc thì khi có, khi không, mà đã đi khỏi làng thì đi đâu
cũng vậy thôi…
Chị đẩy xe đi bán rồi, tôi tần ngần
bên ly cà phê xóm lao động, nhẩm tính, ngày khá chị kiếm được gần năm đô, ngày ế
chưa tới hai đô. Anh chồng chắc cũng chỉ được như vậy. Cả năm vợ chồng để dành
được chừng bảy mươi đô.
Mùng ba Tết, tôi về Phan Rang, liên
lạc được với một người cậu xa, nhờ đó lần đầu tiên tôi tìm gặp mấy người em con
Dì tôi và đứa cháu kêu tôi bằng cậu.
Xuống xe ngoài lộ, sau khi quanh co
trong xóm, Mợ dâu đưa tôi đến nhà Ánh,
con Dì Tư của tôi. Tôi biết Dì tôi có ba người con, nhưng đây là lần đầu tiên gặp
họ. Sau phút đầu bỡ ngỡ, Ánh nói tôi có
nét giống Dì tôi, mẹ cô ấy. Ánh nhờ chồng gọi anh của nó. Anh em ngồi nói chuyện
ngoài sân vì trong nhà hơi tối và thấp, không khí có vẻ hơi nóng bức. Tôi hỏi
chuyện nhà, chuyện sinh hoạt, kinh tế của các em… Ái, anh của Ánh, bảo nó sửa
xe. Chú có tiệm à? Không đâu anh, em
mướn của người ta ngoài sân trước. Nay ngày Tết, em nghỉ cho người ta ăn Tết. Rồi
như vậy ngày thường chú kiếm được khá không? Bù qua sớt lại, mỗi ngày sau
khi ăn uống ngoài đường, em kiếm được hơn trăm (ngàn). Thiếm ấy
có làm gì không? Dạ không, vợ em ở
nhà coi chừng ba đứa nhỏ, nó có tủ thuốc lá ngoài trước, kiếm ít tiền quà cho
các cháu. Còn chú Lộ thì sao? Anh Ba
em ở xa đây lắm – Ánh trả lời, ảnh không có vợ con gì, bán cây xăng cho người
ta, kiếm được đồng nào nhậu hết đồng nấy, ảnh không muốn lấy vợ, hồi Má em còn
sống, biểu ảnh cưới vợ, ảnh nói một thân lo còn chưa xong, cưới vợ lấy gì mà sống,
coi vậy mà ảnh khỏe ru, không có gì phải lo hết. Mấy em
được mấy cháu rồi? Dạ em có ba đứa, hai trai một gái – Ái trả lời, em lập
gia đình trễ, đứa lớn mới vô lớp mười, đứa nhỏ mới lớp sáu, tụi nhỏ cũng ham học,
vợ chồng em ráng làm nuôi tụi nó. Còn cô
Ánh? Dạ, em cũng có ba đứa, con gái lớn có chồng rồi, thằng nhỏ em bồng hồi
nảy là cháu ngoại em đó. Vợ chồng nó sống với em, hồi trước em đi làm, bây giờ
nghỉ ở nhà trông chừng cháu ngoại cho má nó đi làm. Vợ chồng nó làm ở đâu? Dạ vợ chồng nó là công nhân, đi làm cả ngày,
bỏ con cho em coi chừng, còn thằng kế đang học trung học cơ khí trong thành phố. Có tốn
kém lắm không? Dạ cũng tốn, mà tự nó
ráng kiếm tiền sống trong đó, khi nào túng lắm mới hỏi xin. Lâu lâu tụi em gửi
cho cháu một triệu. Còn dượng út? Chồng
em? Dạ em chạy honda ôm - chồng Ánh xen vào trả lời, ngày nào khá cũng kiếm
được một trăm.
Chiều ngã nắng, tôi an ủi mấy đứa em
sau khi gửi biếu tụi nó ít tiền, hẹn lần khác gặp nhau lại khi tôi đưa tro cốt
Ba Má tôi về quê. Trên đường trở ra lộ, Ánh chỉ cho tôi nhà của đứa cháu gọi
tôi bằng cậu, cháu ngoại của Dì Ba tôi. Chúng tôi ghé, cháu còn nhỏ, mới có hai
con. Vào nhà, tuy mới mùng bốn Tết mà lá chuối thau thúng ngổn ngang. Hỏi, cháu
nói làm nghề gói nem cho người khác. Nem, lá chủ đem tới, cháu gói gia công, mỗi
thau được hai chục ngàn. Rồi một ngày
cháu gói được mấy thau? Dạ, được chừng hai tới ba thau thôi cậu à. Còn chồng cháu? Dạ ảnh giao và nhận hàng
cho chủ, rảnh ra phụ cháu gói kiếm thêm, hay có ai kêu làm gì thì ảnh đi làm. Làm là làm gì? Dạ, cái gì cũng làm, phụ
hồ, dọn nhà… hể ai kêu gì làm nấy. Mấy ngày gần Tết cũng đỡ, ảnh đi làm suốt.
Tôi trở về khách sạn, những hình ảnh
của các em tôi, cháu tôi, rồi hình ảnh của chị bán hàng dạo cứ theo ám ảnh mãi
không thôi. Họ sống dưới mức năm đô một ngày! Và họ không có chọn lựa nào khác.
Mùng tám Tết, tôi nhận lời dự bữa họp
mặt với mấy đứa học trò cũ nay làm việc, sinh sống ở Saigon và Cần Thơ, tại một
nhà hàng yên tĩnh cạnh bờ sông bên khu Trung Sơn, nằm giữa quận Tám và khu Phú
Mỹ Hưng, Saigon. Các em tốt nghiệp phổ thông khoảng từ tám lăm tới tám bảy. Lúc đó sau khi đi học tập về, không được nhận
trở lại trường, tôi làm đủ thứ nghề để sống. Khoảng một chín tám mươi, tôi nhận
lời dạy kèm môn Lý cho học sinh thi vào Đại học, tất nhiên là dạy chui, nhưng dần
dà, sự thành công của các lớp luyện thi ngoài luồng đã lôi kéo học sinh đến các
lớp. Niên khóa tám tư tám lăm là năm thành công rực rỡ … Bây giờ các em đang
trong độ tuổi sung mãn nhất của đời người.
Dù sinh trước bảy mươi lăm nhưng trưởng thành trong bối cảnh Việt Nam
đang cần đổi mới để sống còn, các em có sẵn kiến thức đại học, có trong tay thời
cơ, hoàn cảnh, nên đã phát huy hết sức mạnh của tuổi trẻ. Hôm ấy, chừng hai
mươi em tề tựu về, có cả ba em từ Cần Thơ lái xe lên dự. Có em đã gặp lần trước hồi hai ngàn lẻ bảy,
có đứa mới gặp lại lần đầu sau hơn hai mươi năm. Sau khi hỏi thăm về cuộc sống của tôi ở Mỹ, mỗi
đứa kể một ít về cuộc sống và sinh hoạt của mình. Nhiều vui buồn lẫn lộn. Có em thành công rực rỡ, có em thất bại trong
cuộc sống hôn nhân, có nhiều em nay đã là chủ nhân của vài hãng xưởng, trong
tay đã có bạc triệu mỹ kim… Tôi mừng cho họ.
Năm một chín chín mươi, lúc tôi rời
Việt Nam, thày trò chia tay nhau, còn đạp xe vòng vòng Sài Gòn để tìm nhau, ngồi
uống cà phê lề đường, chia nhau vài điếu thuốc lá lẻ, nay các em đón tôi tới dự
tiệc bằng xe hơi, có nhà trong khu sang trọng. Một em trong ngành ngân hàng, lái Mercedes,
nhà vừa xây xong, mười ba tỷ đồng, tính ra hơn sáu trăm năm chục ngàn mỹ kim,
mà ở Việt Nam người ta chưa có cơ cấu mượn tiền mua nhà, em trả bằng tiền mặt,
nghe thấy chóng mặt. Một em khác, phó giám đốc một ngân hàng lớn, đầy quyền uy,
đi xe BMW có tài xế riêng.
Tôi ngồi cạnh một em làm nghề địa ốc,
nghe tâm sự của em. Mới ngoài bốn mươi. đến thăm thầy cũ sau hai mươi lăm năm
xa cách mà không uống rượu, không thuốc lá với bạn bè ồn ào chung quanh, chỉ dùng
bữa bằng một dĩa rau luộc chấm chao và chai nước lạnh. Em kể, em còn một công
trình cuối cùng, xong em sẽ buông hết để lo cho phần hồn của mình. Em nhớ lại,
lúc trước, khi còn bon chen trong cơn sốt địa ốc ở Việt Nam vào thập niên chín
mươi, em buông cái này, bắt cái kia, suốt ngày chỉ thấy có công việc, công việc,
kết quả chỉ có tiền, tiền và tiền. Tiền nhiều quá, càng có nhiều, em càng lao
vào việc, đầu óc nặng như đeo đá, cũng may, với sức thanh niên sung mãn, em làm
không ngưng nghỉ, vợ con không thiếu thứ gì: nhà cửa, xe cộ, máy móc, học
hành... Bỗng nhiên một ngày, em thấy mọi việc như vô nghĩa. Tâm sự với một người
bạn vong niên, ông khuyên hãy thư giãn bớt, nghe thử một cuộc nói chuyện với một
thày tu, nếu có duyên, may ra em tìm được lối thoát… và em làm theo. Nay thấy
như giải thoát, nhưng em đang còn vướng vào một công việc cuối cùng, xong việc
này, em buông tất cả, kể cả vợ con. Nhưng
tuổi em còn trẻ quá mà, em còn phải sống nữa chứ, không làm gì làm sao có tiền
sinh hoạt cho bản thân, cho vợ con? Với em, cái ăn cái mặc không còn là vấn đề,
ngay cả chỗ ở cũng vậy, còn vợ con, em đã lo liệu xong rồi. Cuộc đời các em còn dài, ít ra em còn sống đến
ba mươi, bốn mươi năm nữa, liệu…? Đủ chớ thầy, tiền bạc của em bây giờ
không biết nói sao, nói nhiều là nhiều đối với mình, bây giờ tiền mặt em có hơn
hai trăm tỷ. Là khoảng bao nhiêu mỹ kim?
- khoảng mười triệu mỹ kim, em bỏ vào ngân hàng, phân lời hiện nay là mười bốn
phần trăm, mỗi năm tiền lời là hai mươi tám tỷ, cho rằng sau này, phân lời ngân
hàng còn phân nửa, bảy phần trăm, mỗi năm vợ con em cũng có mười bốn tỷ, xài
sao cho hết? Liệu có ổn định không? Em
rút tiền ra dễ dàng không? Bây giờ thì thấy không có gì, sau này thì em
không biết, nhưng mà thưa thầy, bây giờ đối với em, tiền bạc là vật ngoại thân,
vợ con em sẽ tính tiếp.
Tôi ngơ ngẩn, xa quê hương khá lâu,
bây giờ trở lại, cái gì cũng thay đổi. Đám trẻ bây giờ giỏi thật, họ năng nổ, nắm
bắt thời cơ, nắm đúng mạch hướng phát triển của xã hội, có em sau khi lo cho bản
thân rồi, còn lo cho cha mẹ ở quê nhà nữa, mua đất, cất nhà. Không còn cảnh ai
cũng khó khăn như hồi tôi rời Việt Nam.
Mùng mười Tết, tôi uống cà phê và ăn
trưa ở nhà hàng M. với các em, cũng ở khu Trung Sơn, xem bảng giá, thấy không
thua gì giá sinh hoạt bên Mỹ, một ly cà phê giá sáu mươi đến tám mươi ngàn (ly
cà phê ở quán cóc đầu hẽm sáu ngàn – còn nghe nói ở đâu đó ngoài Hà Nội, một tô
phở giá bảy trăm năm chục ngàn – gần bốn chục đô), một phần ăn trưa từ một trăm
đến một trăm năm mươi ngàn, chưa kể nước uống. Dãy bàn bên cạnh, cũng khoảng mười
người, đều khoảng trên dưới bốn mươi, ăn uống cười nói vui vẻ, thoải mái.
Lúc đó, cách mạng Hoa Lài đã ở
Tunisia đã thành công, tình hình Ai Cập
đang trong giai đoạn chót, trong suốt thời gian sôi động đó, không một ai, từ
dân lao động tới thành phần có học, nói chút gì hay nhắc tới những tình hình sôi
bỏng đó. Tin về cuộc xuống đường ở Ai Cập trên báo Tuồi Trẻ nằm ở trang cuối, với
những thông tin như Hoa Kỳ đang mất một đồng minh chiến lược là tổng thống
Mubarak, chính sách của Mỹ đang thất bại ở Châu Phi và Trung Đông, trong khi ở trang
nhất của báo nói về nạn đinh tặc (bọn rải đinh trên đường) hoành hành, những
anh hùng nhân dân cộng tác chính quyền bắt đinh tặc, tin về xe lửa đụng xe con ở
cầu Ghềnh. Không có một bình luận nào về tinh thần không lay chuyển mưu tìm tự
do, dân chủ của thanh niên Ai Cập. Báo Thanh Niên cũng vậy. Facebook ở Việt Nam
bị khóa, nghe nói ở Trung Quốc cũng vậy. Tin trên các đài truyền hình cũng thế.
Trên internet, trang Yahoo của Việt Nam cũng không thấy nói gì nhiều về tình
hình sôi bỏng ở Ai Cập. Truy cập mấy trang tiếng Anh thì khi được khi
không. Tôi hỏi ý kiến các em về tình
hình Ai Cập, câu trả lời hầu hết là mù mờ,
là nói theo tin của các báo; có em còn cho là Ai Cập có văn hóa và đời sống
khác Việt Nam, ở đây khó có chuyện biểu tình như ở Ai Cập; có em cho là Việt
Nam đang phát triển, người dân đang khá hơn, không giống như tình trạng ở Ai Cập.
Tôi ngừng lại nửa chừng, không muốn đi sâu vào vấn đề có tính nhạy cảm đó,
nhưng cảm thấy ngay, tầng lớp năng động nhất ở Việt Nam không thấy (và có thể
không muốn) có nhu cầu thay đổi.
Tôi trở về Mỹ, mang theo hai hình ảnh,
hai cảnh đời trái ngược của người dân Việt Nam. Những kêu gọi từ hải ngoại biểu
tình, xuống đường chuyển gió và lửa đấu tranh về cho quê hương, mong nhóm lên
ngọn lửa đấu tranh trong lòng thanh niên Việt Nam, nhưng gió và lửa ở hải ngoại
lấy gì mà duy trì khi trong nước không có, hay có rất ít củi mồi.
Houston
– tháng 2-2011