Wednesday, January 22, 2014





HAI CẢNH ĐỜI



Hòa Đa



Tôi về Việt Nam lần này là lần thứ ba sau hơn hai mươi năm xa xứ, cách lần trước bốn năm.  Về để cảm nhận được sự thay đổi của người dân và của Saigon. Thành phố vẫn đầy bụi và nóng bức, dù đang tiết xuân. Tuy vậy, Saigon bây giờ trật tự hơn bốn năm trước và cũng có vẻ khang trang hơn nhờ các công trình xây dựng đường xá và cao ốc, Xa lộ Đông Tây đã đưa vào sử dụng, tuy rác rến hai bên đường vẫn còn bừa bãi, nhất là về phía Chợ Lớn. Đèn giao thông nhiều hơn (tuy thiếu hữu hiệu) và người Saigon bây giờ biết ngừng lại khi đèn đỏ nhưng lại sẳn sàng xông vào đoàn xe chiều ngược lại khi đèn bật xanh để rẽ trái vì đèn lưu thông thường không có dấu quẹo trái, tạo thành cảnh bát nháo mà ai ở nước ngoài về cũng thấy sợ.

Những ngày trước Tết, người Saigon tất bật mua sắm, một năm chỉ có một lần mà! Hàng bán mỗi nơi một giá, người bán kẻ mua cò kè, xem cũng vui mắt. Ba mươi Tết, chậu mai vàng khá bề thế, người bán hét giá bảy triệu, kẻ mua trả ba triệu rồi bốn triệu. Đâu có giá rẻ vậy chú Hai, chú coi cây đầy búp, bảo đảm mùng một là nở rộ - Đàng kia cây còn sung hơn mà chỉ ra giá năm triệu… - Chú hai mua giùm, giá này là phải rồi, tui muốn bán cho xong đặng lui ghe sớm, còn lo sắm sửa cho ngày Tết nữa chớ…

Tôi nhẩm tính, một cây mai, dù có đẹp, phải mua với giá hai ba trăm đô (trước Tết Tân Mão, giá chợ: một đô ăn hai chục ngàn năm trăm) xem ra người Saigon không nghèo lắm khi muốn chưng một cây mai cho ra vẻ Tết. Giá một ký thịt (heo) đùi khoảng một trăm bốn mươi ngàn, đâu kém gì “thịt Mỹ”?

Và người ta vẫn kẻ mua người bán như điên!



Nhà tôi ở thuộc khu lao động bên quận Tám. Đường hẽm bây giờ được “nâng cấp” để tránh ngập lụt nên nhà cửa hai bên hình như “lùn” xuống. Ai có tiền nâng nền lên (cao hẳn khỏi mặt hẽm) để chống ngập, làm trần và nền gần nhau hơn, ngó mắc cười. Ai thiếu tiền, nền nhà cũ còn thấp hơn mặt đường, đành xây cái “đê” nhỏ trước nhà để ngăn nước vào nhà khi trời mưa, rủi có ngập lụt chút đỉnh, cha con chồng vợ thi nhau tát. Nhà cửa trong hẽm có xây cất lại, ít lụp xụp hơn xưa nhưng cuộc sống nghèo nàn và bẩn chật trong xóm ít thấy thay đổi.

Buổi sáng, thức dậy sớm, khi trong hẽm chưa nhiều tiếng ồn do gắn máy qua lại, tôi thơ thẩn dọc hẽm. Bên góc hẽm nhỏ hơn, cạnh chỗ tôi ngồi lơ đãng với ly cà phê quán cóc, một chị bán hàng rong, khoảng bốn mươi, ngồi xệp bên cạnh chiếc xe đạp khá tồi tàn (bây giờ ở Sài Gòn thấy xe đạp là chuyện khó), đang xếp lại mớ rau cải, hành ngò, thịt thà… cân lại chỗ thịt này, ngắt bỏ vài lá rau úa. Tôi gặp chị ngồi đây hai hôm trước rồi. Tôi gợi chuyện:

-   Chị bán ở đây à?

-   Không em ngồi tạm, dọn mấy hàng vừa mua được cho gọn gàng, bắt mắt… rồi đẩy xe đi bán dạo quanh xóm - chị trả lời với giọng Bắc không nặng lắm như mấy cô phát ngôn viên trên các đài truyền hình.

-   Chị bán vậy có khá không? - Tôi nảy ý gợi chuyện nhiều hơn

-   Chỉ kiếm tạm đủ sống thôi bác ạ

-   Mỗi ngày chị kiếm được bao nhiêu tiền lời?

-   Nếu bán hết và gặp may, em kiếm được trăm ngàn, hôm nào giời mưa, bán ế, kiếm không ra ba chục.

-   Như vậy làm sao đủ sống?

-   Nhà em đi làm hồ cho người ta, nhưng mấy ngày nay gần Tết không có việc làm, chỉ mình em kiếm tiền, thì cũng phải chịu vậy thôi.

         Tôi hỏi, chị trả lời, cũng không mấy khi ngừng tay làm việc, chị kể chuyện:

            Quê chúng em ở tận mãi ngoài Bắc Ninh.  A, quê hương của Quan họ ấy à? Thưa vâng, nhưng bây giờ chả có ai hát hò gì nữa đâu bác, còn chăng là trên sân khấu biểu diễn thôi, nhà chúng em nghèo lắm, chỉ có được vài trăm mét vuông ruộng, thấy người ta vào Nam kiếm ăn được, vợ chồng bàn tính nhau, để ruộng lại cho chú em, giật ít vốn, rồi xuôi Nam kiếm sống. Vậy anh chị vào đây lâu chưa? Cũng bảy năm rồi bác ạ, nhà em mãi hơn năm sau mới kiếm được chân làm hồ, khi nào chủ có việc thì gọi đi, em thì xoay được ít tiền, sáng ra các chợ từ hai ba giờ sáng đón hàng, về bán lại quanh xóm kiếm lời;  Anh chị đã có cháu nào chưa? Vâng, có một cháu trai, vào trong này mới sinh, cháu đang học Mẫu giáo nhỡ, mấy năm trước cháu còn bé, chúng em còn phải tốn tiền gửi nhà trẻ để rảnh tay kiếm sống;  Rồi anh chị có nhà cửa gì chưa? Có hộ khẩu ở thành phố không? Làm gì có, bác! chúng em thuê một phòng nhỏ, cùng với hai gia đình nữa, ban ngày ai cũng đi làm, chiều về chia nhau mỗi gia đình một góc, chỉ mong có chỗ ngã lưng thôi ấy mà; Sống như vậy, anh chị có dịp nào quay về thăm quê không? Có một lần, bác ạ, lúc năm đầu mới vào ấy, chúng em ngừng lại ở Đà Nẳng, không tìm được việc gì làm lại nhớ quê quá, chúng em liều tốn về thăm, nhưng rồi không tìm được việc gì để sống ở ngoài ấy, lại vay nóng vào Nam lại, lần này chúng em vào luôn đến thành phố. Thế từ đó đến bây giờ anh chị có về nữa không? Tiền đâu mà về bác? Hai vé tàu mất khoảng một triệu một chuyến, đó là ngày thường, còn dịp Tết như bây giờ, giá chợ đen thì vô chừng, mà không dễ gì tìm được vé. Chúng em ky cóp để dành cả năm, nếu không đau ốm, may ra được hơn triệu rưỡi. Ốm một trận, đi đời cả vốn liếng. Vả lại chúng em vẫn còn nợ ngoài ấy, thôi thì đành tha phương, có chút tiền  gửi về giả nợ, còn lại lo cho cháu bé. Vả lại ở đây còn có chút bỏ vào mồm, ngoài quê em ấy, ngày đông tháng giá, có khi không có gì ăn. Bác xem, cả làng cùng nghèo cả thì có ai có việc mà mượn mình làm. Còn ra tỉnh kiếm việc thì khi có, khi không, mà đã đi khỏi làng thì đi đâu cũng vậy thôi…

            Chị đẩy xe đi bán rồi, tôi tần ngần bên ly cà phê xóm lao động, nhẩm tính, ngày khá chị kiếm được gần năm đô, ngày ế chưa tới hai đô. Anh chồng chắc cũng chỉ được như vậy. Cả năm vợ chồng để dành được chừng bảy mươi đô.



            Mùng ba Tết, tôi về Phan Rang, liên lạc được với một người cậu xa, nhờ đó lần đầu tiên tôi tìm gặp mấy người em con Dì tôi và đứa cháu kêu tôi bằng cậu.

            Xuống xe ngoài lộ, sau khi quanh co trong xóm,  Mợ dâu đưa tôi đến nhà Ánh, con Dì Tư của tôi. Tôi biết Dì tôi có ba người con, nhưng đây là lần đầu tiên gặp họ.  Sau phút đầu bỡ ngỡ, Ánh nói tôi có nét giống Dì tôi, mẹ cô ấy. Ánh nhờ chồng gọi anh của nó. Anh em ngồi nói chuyện ngoài sân vì trong nhà hơi tối và thấp, không khí có vẻ hơi nóng bức. Tôi hỏi chuyện nhà, chuyện sinh hoạt, kinh tế của các em… Ái, anh của Ánh, bảo nó sửa xe. Chú có tiệm à? Không đâu anh, em mướn của người ta ngoài sân trước. Nay ngày Tết, em nghỉ cho người ta ăn Tết.  Rồi như vậy ngày thường chú kiếm được khá không? Bù qua sớt lại, mỗi ngày sau khi ăn uống ngoài đường, em kiếm được hơn trăm (ngàn).  Thiếm ấy có làm gì không?  Dạ không, vợ em ở nhà coi chừng ba đứa nhỏ, nó có tủ thuốc lá ngoài trước, kiếm ít tiền quà cho các cháu. Còn chú Lộ thì sao? Anh Ba em ở xa đây lắm – Ánh trả lời, ảnh không có vợ con gì, bán cây xăng cho người ta, kiếm được đồng nào nhậu hết đồng nấy, ảnh không muốn lấy vợ, hồi Má em còn sống, biểu ảnh cưới vợ, ảnh nói một thân lo còn chưa xong, cưới vợ lấy gì mà sống, coi vậy mà ảnh khỏe ru, không có gì phải lo hết.  Mấy em được mấy cháu rồi? Dạ em có ba đứa, hai trai một gái – Ái trả lời, em lập gia đình trễ, đứa lớn mới vô lớp mười, đứa nhỏ mới lớp sáu, tụi nhỏ cũng ham học, vợ chồng em ráng làm nuôi tụi nó. Còn cô Ánh? Dạ, em cũng có ba đứa, con gái lớn có chồng rồi, thằng nhỏ em bồng hồi nảy là cháu ngoại em đó. Vợ chồng nó sống với em, hồi trước em đi làm, bây giờ nghỉ ở nhà trông chừng cháu ngoại cho má nó đi làm. Vợ chồng nó làm ở đâu? Dạ vợ chồng nó là công nhân, đi làm cả ngày, bỏ con cho em coi chừng, còn thằng kế đang học trung học cơ khí trong thành phố.  Có tốn kém lắm không?  Dạ cũng tốn, mà tự nó ráng kiếm tiền sống trong đó, khi nào túng lắm mới hỏi xin. Lâu lâu tụi em gửi cho cháu một triệu. Còn dượng út? Chồng em? Dạ em chạy honda ôm - chồng Ánh xen vào trả lời, ngày nào khá cũng kiếm được một trăm.

            Chiều ngã nắng, tôi an ủi mấy đứa em sau khi gửi biếu tụi nó ít tiền, hẹn lần khác gặp nhau lại khi tôi đưa tro cốt Ba Má tôi về quê. Trên đường trở ra lộ, Ánh chỉ cho tôi nhà của đứa cháu gọi tôi bằng cậu, cháu ngoại của Dì Ba tôi. Chúng tôi ghé, cháu còn nhỏ, mới có hai con. Vào nhà, tuy mới mùng bốn Tết mà lá chuối thau thúng ngổn ngang. Hỏi, cháu nói làm nghề gói nem cho người khác. Nem, lá chủ đem tới, cháu gói gia công, mỗi thau được hai chục ngàn. Rồi một ngày cháu gói được mấy thau? Dạ, được chừng hai tới ba thau thôi cậu à. Còn chồng cháu? Dạ ảnh giao và nhận hàng cho chủ, rảnh ra phụ cháu gói kiếm thêm, hay có ai kêu làm gì thì ảnh đi làm. Làm là làm gì? Dạ, cái gì cũng làm, phụ hồ, dọn nhà… hể ai kêu gì làm nấy. Mấy ngày gần Tết cũng đỡ, ảnh đi làm suốt.

            Tôi trở về khách sạn, những hình ảnh của các em tôi, cháu tôi, rồi hình ảnh của chị bán hàng dạo cứ theo ám ảnh mãi không thôi. Họ sống dưới mức năm đô một ngày! Và họ không có chọn lựa nào khác.



            Mùng tám Tết, tôi nhận lời dự bữa họp mặt với mấy đứa học trò cũ nay làm việc, sinh sống ở Saigon và Cần Thơ, tại một nhà hàng yên tĩnh cạnh bờ sông bên khu Trung Sơn, nằm giữa quận Tám và khu Phú Mỹ Hưng, Saigon. Các em tốt nghiệp phổ thông khoảng từ tám lăm tới tám bảy.  Lúc đó sau khi đi học tập về, không được nhận trở lại trường, tôi làm đủ thứ nghề để sống. Khoảng một chín tám mươi, tôi nhận lời dạy kèm môn Lý cho học sinh thi vào Đại học, tất nhiên là dạy chui, nhưng dần dà, sự thành công của các lớp luyện thi ngoài luồng đã lôi kéo học sinh đến các lớp. Niên khóa tám tư tám lăm là năm thành công rực rỡ … Bây giờ các em đang trong độ tuổi sung mãn nhất của đời người.  Dù sinh trước bảy mươi lăm nhưng trưởng thành trong bối cảnh Việt Nam đang cần đổi mới để sống còn, các em có sẵn kiến thức đại học, có trong tay thời cơ, hoàn cảnh, nên đã phát huy hết sức mạnh của tuổi trẻ. Hôm ấy, chừng hai mươi em tề tựu về, có cả ba em từ Cần Thơ lái xe lên dự.  Có em đã gặp lần trước hồi hai ngàn lẻ bảy, có đứa mới gặp lại lần đầu sau hơn hai mươi năm.  Sau khi hỏi thăm về cuộc sống của tôi ở Mỹ, mỗi đứa kể một ít về cuộc sống và sinh hoạt của mình. Nhiều vui buồn lẫn lộn.  Có em thành công rực rỡ, có em thất bại trong cuộc sống hôn nhân, có nhiều em nay đã là chủ nhân của vài hãng xưởng, trong tay đã có bạc triệu mỹ kim… Tôi mừng cho họ.

            Năm một chín chín mươi, lúc tôi rời Việt Nam, thày trò chia tay nhau, còn đạp xe vòng vòng Sài Gòn để tìm nhau, ngồi uống cà phê lề đường, chia nhau vài điếu thuốc lá lẻ, nay các em đón tôi tới dự tiệc bằng xe hơi, có nhà trong khu sang trọng.  Một em trong ngành ngân hàng, lái Mercedes, nhà vừa xây xong, mười ba tỷ đồng, tính ra hơn sáu trăm năm chục ngàn mỹ kim, mà ở Việt Nam người ta chưa có cơ cấu mượn tiền mua nhà, em trả bằng tiền mặt, nghe thấy chóng mặt. Một em khác, phó giám đốc một ngân hàng lớn, đầy quyền uy, đi xe BMW có tài xế riêng.

            Tôi ngồi cạnh một em làm nghề địa ốc, nghe tâm sự của em. Mới ngoài bốn mươi. đến thăm thầy cũ sau hai mươi lăm năm xa cách mà không uống rượu, không thuốc lá với bạn bè ồn ào chung quanh, chỉ dùng bữa bằng một dĩa rau luộc chấm chao và chai nước lạnh. Em kể, em còn một công trình cuối cùng, xong em sẽ buông hết để lo cho phần hồn của mình. Em nhớ lại, lúc trước, khi còn bon chen trong cơn sốt địa ốc ở Việt Nam vào thập niên chín mươi, em buông cái này, bắt cái kia, suốt ngày chỉ thấy có công việc, công việc, kết quả chỉ có tiền, tiền và tiền. Tiền nhiều quá, càng có nhiều, em càng lao vào việc, đầu óc nặng như đeo đá, cũng may, với sức thanh niên sung mãn, em làm không ngưng nghỉ, vợ con không thiếu thứ gì: nhà cửa, xe cộ, máy móc, học hành... Bỗng nhiên một ngày, em thấy mọi việc như vô nghĩa. Tâm sự với một người bạn vong niên, ông khuyên hãy thư giãn bớt, nghe thử một cuộc nói chuyện với một thày tu, nếu có duyên, may ra em tìm được lối thoát… và em làm theo. Nay thấy như giải thoát, nhưng em đang còn vướng vào một công việc cuối cùng, xong việc này, em buông tất cả, kể cả vợ con. Nhưng tuổi em còn trẻ quá mà, em còn phải sống nữa chứ, không làm gì làm sao có tiền sinh hoạt cho bản thân, cho vợ con?  Với em, cái ăn cái mặc không còn là vấn đề, ngay cả chỗ ở cũng vậy, còn vợ con, em đã lo liệu xong rồi. Cuộc đời các em còn dài, ít ra em còn sống đến ba mươi, bốn mươi năm nữa, liệu…? Đủ chớ thầy, tiền bạc của em bây giờ không biết nói sao, nói nhiều là nhiều đối với mình, bây giờ tiền mặt em có hơn hai trăm tỷ. Là khoảng bao nhiêu mỹ kim? - khoảng mười triệu mỹ kim, em bỏ vào ngân hàng, phân lời hiện nay là mười bốn phần trăm, mỗi năm tiền lời là hai mươi tám tỷ, cho rằng sau này, phân lời ngân hàng còn phân nửa, bảy phần trăm, mỗi năm vợ con em cũng có mười bốn tỷ, xài sao cho hết? Liệu có ổn định không? Em rút tiền ra dễ dàng không? Bây giờ thì thấy không có gì, sau này thì em không biết, nhưng mà thưa thầy, bây giờ đối với em, tiền bạc là vật ngoại thân, vợ con em sẽ tính tiếp.

            Tôi ngơ ngẩn, xa quê hương khá lâu, bây giờ trở lại, cái gì cũng thay đổi. Đám trẻ bây giờ giỏi thật, họ năng nổ, nắm bắt thời cơ, nắm đúng mạch hướng phát triển của xã hội, có em sau khi lo cho bản thân rồi, còn lo cho cha mẹ ở quê nhà nữa, mua đất, cất nhà. Không còn cảnh ai cũng khó khăn như hồi tôi rời Việt Nam.

            Mùng mười Tết, tôi uống cà phê và ăn trưa ở nhà hàng M. với các em, cũng ở khu Trung Sơn, xem bảng giá, thấy không thua gì giá sinh hoạt bên Mỹ, một ly cà phê giá sáu mươi đến tám mươi ngàn (ly cà phê ở quán cóc đầu hẽm sáu ngàn – còn nghe nói ở đâu đó ngoài Hà Nội, một tô phở giá bảy trăm năm chục ngàn – gần bốn chục đô), một phần ăn trưa từ một trăm đến một trăm năm mươi ngàn, chưa kể nước uống. Dãy bàn bên cạnh, cũng khoảng mười người, đều khoảng trên dưới bốn mươi, ăn uống cười nói vui vẻ, thoải mái.

            Lúc đó, cách mạng Hoa Lài đã ở Tunisia đã thành công,  tình hình Ai Cập đang trong giai đoạn chót, trong suốt thời gian sôi động đó, không một ai, từ dân lao động tới thành phần có học, nói chút gì hay nhắc tới những tình hình sôi bỏng đó. Tin về cuộc xuống đường ở Ai Cập trên báo Tuồi Trẻ nằm ở trang cuối, với những thông tin như Hoa Kỳ đang mất một đồng minh chiến lược là tổng thống Mubarak, chính sách của Mỹ đang thất bại ở Châu Phi và Trung Đông, trong khi ở trang nhất của báo nói về nạn đinh tặc (bọn rải đinh trên đường) hoành hành, những anh hùng nhân dân cộng tác chính quyền bắt đinh tặc, tin về xe lửa đụng xe con ở cầu Ghềnh. Không có một bình luận nào về tinh thần không lay chuyển mưu tìm tự do, dân chủ của thanh niên Ai Cập. Báo Thanh Niên cũng vậy. Facebook ở Việt Nam bị khóa, nghe nói ở Trung Quốc cũng vậy. Tin trên các đài truyền hình cũng thế. Trên internet, trang Yahoo của Việt Nam cũng không thấy nói gì nhiều về tình hình sôi bỏng ở Ai Cập. Truy cập mấy trang tiếng Anh thì khi được khi không.  Tôi hỏi ý kiến các em về tình hình  Ai Cập, câu trả lời hầu hết là mù mờ, là nói theo tin của các báo; có em còn cho là Ai Cập có văn hóa và đời sống khác Việt Nam, ở đây khó có chuyện biểu tình như ở Ai Cập; có em cho là Việt Nam đang phát triển, người dân đang khá hơn, không giống như tình trạng ở Ai Cập. Tôi ngừng lại nửa chừng, không muốn đi sâu vào vấn đề có tính nhạy cảm đó, nhưng cảm thấy ngay, tầng lớp năng động nhất ở Việt Nam không thấy (và có thể không muốn) có nhu cầu thay đổi.  



            Tôi trở về Mỹ, mang theo hai hình ảnh, hai cảnh đời trái ngược của người dân Việt Nam. Những kêu gọi từ hải ngoại biểu tình, xuống đường chuyển gió và lửa đấu tranh về cho quê hương, mong nhóm lên ngọn lửa đấu tranh trong lòng thanh niên Việt Nam, nhưng gió và lửa ở hải ngoại lấy gì mà duy trì khi trong nước không có, hay có rất ít củi mồi. 





Houston – tháng 2-2011

MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI Nhân cứ nhìn trộm người đàn ông phía bên kia kệ hàng của siêu thị. Ông ta không biết có người nhìn mình, v...