Friday, September 29, 2017



                            DỐI TRÁ TỪ MỌI PHÍA

Hòa Đa

    
      Năm học 1963-1964, tôi học năm cuối trung học. Biến cố chính trị 1963 cũng ảnh hưởng tới cuộc sống ở tỉnh lẻ. Ở tuổi mười bảy mười tám, chúng tôi bắt đầu tham gia một cách vô thức những trò chơi chính trị. Tuy không sôi nổi như ở thủ đô Saigon lúc bấy giờ, nhưng cũng xuống đường, bãi khóa, và cũng có vài quá khích thừa gió bẻ măng của đám đông bị khích động. Ai khích động? – không biết. Tôi chỉ biết bạn bè chúng tôi là những thằng hiền lành, chỉ biết ăn rồi học, chưa có những huấn luyện kỹ năng khích động, hầu hết chỉ là do hiệu ứng đám đông… Rồi những nông nổi của tuổi trẻ cũng qua mau.



      Đậu xong Tú Tài 2, tôi vào học ở Saigon. Chúng tôi phần nào ngơ ngác trong những cơn lốc chính trị xảy ra hàng ngày trên đường phố, trong sân trường. Ngơ ngác vì chưa đủ trình độ chính trị để phân tích, nhận định, ngơ ngác vì có quá nhiều thông tin. Nhưng dần dà chúng tôi cũng rút ra được những kết luận cho chính mình. Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, số cố vấn Mỹ ở Saigon cũng đông hơn, những dịch vụ giải trí cho quân nhân Mỹ ngày càng nhiều hơn, những công sự, lô-cốt quanh những cơ quan Hoa Kỳ, nơi cư ngụ của quân nhân Mỹ ngạo nghể ngay trên đường phố. Người dân nghèo, trẻ con, bám theo lính Mỹ xin mua hàng PX, xin kẹo , thuốc lá gây nên những hình ảnh rất phản cảm. Mặt khác những tin tức về cuộc chiến, những thiệt hại của Mỹ, Việt ở cả hai phía hàng ngày tràn ngập trên báo chí, bạn bè, người thân bị động viên, nhập ngũ…  và thanh niên lớn lên không được giải thích gì cả, phải tự tìm lấy lời giải cho chính mình. Một vài người bạn có lẽ đã được phía bên kia lôi kéo, kín đáo có những hoạt động có tính dấn thân hơn dưới một vỏ bọc hợp pháp. Một người bạn cùng quê, học chung từ tiểu học, cùng với hai mươi sinh viên khác lê lết dìu nhau ra tòa, chính quyền không đủ chứng cứ để buộc tội họ là cộng sản phải thả họ ra và họ được coi như những người hùng (chỉ sau này, sau 75, một số trong bọn họ, trong đó có người bạn tôi, mới xuất hiện như những cán bộ cộng sản nằm vùng từ thời trước) chúng tôi vẫn sống bên cạnh nhau vẫn thân thiết nhau, thậm chí tôi còn giúp lãnh bài roneo cho anh, để anh có thể học và hoàn tất phần thi viết chứng chỉ Hóa Hữu Cơ Thâm Cứu, khi anh còn ở tù. Cũng như về sau khi về dạy học ở Vĩnh Long, tôi đã gặp một trường hợp tương tự: hai người con của một cán bộ Việt cộng (đang bị giam ở khám lớn Vĩnh Long, về sau là tỉnh ủy Vĩnh Long ) vẫn theo học tại trường trung học tôi đang dạy và một em đang là giáo sinh của trường Sư Phạm Vĩnh Long, tôi không tin là chính quyền không biết lý lịch của các em. Chính quyền miền Nam lúc đó không khắc nghiệt như người cộng sản vẫn tuyên truyền.


     Trở lại bộ phim The Vietnam War, ngay từ đầu, Washington biết không thể thắng trong cuộc chiến ở Việt Nam, nhưng vẫn đẩy hàng ngàn thanh niên ra chiến trường và nhận về những tổn thất ngày càng nhiều hơn, vẫn dối gạt quần chúng, dối gạt thanh niên của họ. Người dân Mỹ vốn tin tưởng thành phần lãnh đạo do họ bầu ra, cuối cùng cũng đòi biết sự thật bằng những biểu tình phản chiến. Chỉ những thanh niên nghèo, thiểu số bị động viên và bị đẩy ra chiến trường, một thiểu số tránh bị động viên bằng cách tìm ra nước ngoài học. Các cấp chỉ huy tìm cách che giấu sự thất bại, tự huyễn hoặc đánh lừa mình bằng cách đếm xác chết địch quân, người lính Mỹ không thể phân biệt ai là thường dân, ai là người cầm súng, nên cứ giết rồi đếm, cứ thấy ai bỏ chạy thì cứ cho là Việt cộng rồi giết, càng nhiều xác chết càng thỏa mãn yêu cầu của các cấp chỉ huy. Càng dấn thân, càng sa lầy,  tổng thống Johnson không thấy “ánh sáng cuối đường hầm” mà vẫn dối gạt người dân.Tuần báo Time (số September 25, 2017) có bài phân tích của Karl Vick (The War That Broke The Country) đã cho thấy bộ phim của Ken Burns và Lynn Novick vạch rõ Washington cố che giấu những sai lầm của mình. 


     Hà Nội cũng vậy. Chính Hồ Chí Minh, Lê Duẫn từng tuyên bố đánh Mỹ cho đến người Việt cuối cùng, trắng trợn nói dối với bộ đội của mình rằng người dân miền Nam đang sống trong kềm kẹp của Mỹ Ngụy, người dân không có cơm gạo, thiếu thốn, đang mong chờ bộ đội từng ngày đến giải phóng. Thanh niên ở phía bên kia vĩ tuyến 17 tin tưởng tuyệt đối vào những gì lãnh đạo của họ nói, chính quyền đã đẩy cả trẻ con vào bộ đội. Họ liều mình vui vẻ đi vào chỗ chết, nhưng họ thuộc thành phần nghèo trong xã hội, không có lựa chọn nào khác, ai đã từng sống trong chế độ cộng sản, hiểu thế nào là tem phiếu, hộ khẩu. Những hình thức đó đã tác dụng thế nào  lên cuộc sống thường ngày của người dân, con em trong nhà trốn nghĩa vụ quân sự, gia đình bị cắt mọi quyền lợi, nhu yếu phẩm vốn rất khiêm nhường trong xã hội, làm sao họ sống?  Người dân bình thường ở các xứ tư bản không thể hiểu được. Còn con cháu của lãnh đạo, họ được đưa đi học ở Liên Xô, Đông Đức. Sau 75, người ta cũng thấy cảnh tương tự, con của nông dân, thợ thuyền đến tuổi, luôn vinh quang trúng tuyển nghĩa vụ quân sự đi đánh nhau ở Kampuchia, chết thay cho con em cán bộ có quyền. Và trên hết, cách tuyên truyền tinh vi của cộng sản làm người dân không có sự suy nghĩ khác, cũng không có cách diễn tả khác, từ trên xuống dưới nói y hệt như nhau, dù là cán bộ chính trị ở trung ương hay một bộ đội địa phương, từ những trại học tập cho binh lính miền Nam đến những bài học tập chính trị ở trường học công sở, cho đến những buổi tuyên truyền chính trị trong dân chúng ra rả trên các loa phóng thanh công cộng,  thậm chí cả những người trí thức, có bằng cấp, học vị, dù trong nước hay ngoài nước, họ đều nói y như nhau… Chẳng hạn, ai cũng nói “đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, Mỹ là tên sen đầm quốc tế, đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, quyết tâm đánh Mỹ ngụy cho đến thắng lợi cuối cùng…” Người cộng sản đã thành công trong việc nhào nặn mọi người nói một kiểu, con người trở thành máy nói, nói theo đúng một công thức, nói y như câu mẫu từ bộ chính trị. Nhưng họ không nói đúng sự thật. Thất bại của họ ở Mậu Thân 1968 là một, cuộc thảm sát ỡ Huế trong trận Mậu Thân là một thí dụ khác. Đến bây giờ họ vẫn nói dối là không có cuộc thảm sát, đó là do miền Nam tuyên truyền. Phim The Vietnam War (episode 6) đã nêu rõ sự dối trá đó khi phỏng vấn được những cán bộ tham dự đã thừa nhận có sự thảm sát hàng ngàn người dân vô tội. Có lẽ vì vậy mà chính quyền Việt Nam không dám cho công chiếu trọn bộ bộ phim này ở Việt Nam. Họ vẫn còn tiếp tục che giấu.


     Miền Nam cũng vậy! Như đã nói, khoảng thời gian từ 1964-1970, tôi đang học đại học ở Saigon, ở cái tuổi hình thành dần cho mình một nhận định về xã hội, một nhân sinh quan, thì đó lại là khoảng thời gian kinh khủng nhất của cuộc chiến. Thông tin nhiều quá, thậm chí có nhiều thứ trái ngược nhau. Hàng ngày, trên báo chí, đài phát thanh đầy dẫy những tin tức chiến sự khốc liệt. Thiệt hại của bên này hay bên kia, cao hay thấp là tùy theo nguồn tin nào. Người ta đã thấy chiến tranh len vào các thành thị của miền Nam, cộng sản pháo kích hỏa tiển 122 ly bừa bãi vào thành phố, trúng đâu đó chịu, đặc công đánh bom vào các phòng trà, vũ trường có lính Mỹ lui tới. Thanh niên sinh viên hát những bài hát đầy tính chiến đấu, cũng như những tình ca rất ủy mị bên cạnh những bài hát phản chiến, những “ca khúc da vàng” của Trịnh Công Sơn bên cạnh những bài hát du ca của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Trầm Tử Thiêng…Thanh niên chúng tôi nghe và biết những tệ trạng, bê bối tham nhũng của chính quyền, người ta phải bỏ tiền ra để “mua” ghế tỉnh trưởng hay quận trưởng nội thành, những vụ buôn lậu có còi hụ ở Long An, buôn lậu bằng Air Vietnam, những tệ nạn lính ma, lính kiểng…nhưng đồng thời cũng nhìn thấy kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, xã hội… của miền Nam mỗi ngày một hay hơn, những thành quả dân chủ ngày một củng cố, người dân có quyền ứng cử và bầu cử… Thì cũng có những gian lận bầu cử đó, nhưng ít ra người dân vẫn có thể đồng ý hay phản đối chính quyền. Người ta vẫn thấy có những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, của phật tử, của thương phế binh đòi quyền sống… Mỗi lần xuống đường là chạm mặt với cảnh sát dã chiến, với lựu đạn cay, với dùi cui.  Người dân ghi nhận tất cả những hình ảnh đó như là một nếp sống dân chủ, chính phủ không xóa bỏ những hình ảnh đó trên báo chí, trên truyền thanh, truyền hình. 


     Càng lùi về sau, khi người Mỹ đã quá mệt mỏi với cuộc chiến, nhất là lúc miền Bắc chịu ngồi vào bàn hội nghị Paris về ngưng chiến ở Việt Nam, Mỹ dần xuống thang cuộc chiến nhưng cũng là lúc Hà Nội đẩy mạnh sức ép quân sự lên miền Nam, thì cũng là lúc người miền Nam ý thức được phần nào sự sống còn của họ phụ thuộc vào tính chính danh và sự cương quyết của quân đội.  Thanh niên lần lượt nhập ngũ. Trung Tâm 3 tuyển mộ lúc nào cũng nhộn nhịp, các quân trường Quang Trung, Đồng Đế, Thủ Đức…  lúc nào cũng đầy người, chưa kể đến những thanh niên ưu tú, dấn thân ở Võ Bị Đà Lạt.  Người ta nói đến những trận đánh đẫm máu ở cổ thành Quảng Trị, An Lộc, Đường số 9… Hai bên Bắc, Nam Việt Nam đều có tổn thất, nhưng Hà Nội vẫn không đạt được ý họ muốn là giải phóng được hoàn toàn miền Nam. Trong mỗi trận đánh, người dân giữa hai lằn đạn chạy về phía Việt Nam Cộng Hòa, không nghe nói tới dân chạy theo Việt cộng. Nhưng xem chừng ý thức phải tự vệ của miền Nam đến hơi trể và chưa rộng khắp.


     Tháng 1 Năm 1973, hiệp định Paris ký kết, Mỹ phủi tay, rút quân, bỏ mặc miền Nam phải tự lo liệu vận mạng mình, và tệ hơn nữa Nixon vì vụ Watergate, nuốt lời hứa với Nguyễn Văn Thiệu sẽ trả đủa Bắc Việt nếu Hà Nội vi phạm, quốc hội Mỹ nhắm mắt trước lờ hứa của một siêu cường, lạnh lùng cắt cả quân viện, cấm quân đội Mỹ hoạt động trên khắp Đông Dương.  Trên thế giới mọi người tin rằng miền Nam sẽ rơi vào tay cộng sản chỉ là chuyện ngày một ngày hai. Thế mà cái đám miền Nam cứng đầu đó không chịu chết (như lời của Henri Kissinger than thở) dù trung ương tham nhũng, thối nát và thiếu khí tiết. Không có quân đội, cố vấn Mỹ bên cạnh, quân đội miền Nam vẫn kiên cường chiến đấu, chống đỡ với cộng sản với trang bị dồi dào của Liên Xô, Trung cộng. Phải đến hai năm sau, 1975, miền Nam mới rơi hoàn toàn vào tay cộng sản, sau khi tướng, tá, viên chức cao cấp trung ương tháo chạy khỏi con tàu đang chìm, họ quen dựa vào bầu sữa của Mỹ. Một số buông súng theo lệnh của Dương văn Minh trong uất ức, hoặc tự vận vì thấy mình không làm tròn được trách nhiệm với Tổ Quốc. Và trong đoàn quân chiến thắng đó, đã có người ngỡ ngàng khi thấy một xã hội miền Nam, thịnh vượng hơn, dân chủ hơn, văn minh hơn xã hội miền Bắc gấp bội.


     Cuộc chiến này xé nát xã hội và gia đình Việt. Gia đình tôi có một người quen, là đại úy quận trưởng một quận ở tây bắc thị xã Phan Thiết. Những lúc về tỉnh nhận chỉ thị ông thường ghé nhà tôi nghỉ ngơi. Có lần ông nói với tôi – lúc đó chỉ mới 17 tuổi : “ Cháu nhìn xem, từ đầu đến chân của chú, mọi thứ là của Mỹ, giày vớ, quần áo, súng đạn, cái gì cũng của Mỹ. Kể cả thức ăn, thuốc hút… cái gì cũng từ Mỹ. Ngày nào Mỹ không viện trợ nữa, lấy gì mà đánh?” Ông tử trận trước khi thấy nhận xét của mình đúng. Tôi cũng có một người cậu, em bà con của Má tôi, cậu theo Việt cộng từ hồi còn là một thiếu niên. Sau 75, cậu về thăm, cũng không thấy cậu hào hứng gì cho lắm cái thành quả của cộng sản trong công cuộc giải phóng, có lần cậu nhận xét “dân ở tỉnh thành không ưa Việt cộng, ngày nào họ nổi dậy, có lẽ cậu cũng phải ném cái nón cối trên đầu để tránh bị nhận diện”. Khi tôi định đưa Ba Má và em tôi về Vĩnh Long, cậu nói: anh chị theo cháu mà đi đi, càng xa cái tỉnh hắc ám, chỉ gồm đám Nam Ngãi Bình Phú, này càng tốt. Trong Nam, người ta hiền hơn.


     Trong cuộc chiến Việt Nam, chính phủ Mỹ dối gạt người dân, đẩy thanh niên vào một trận chiến không lối thoát, những GI của Mỹ không hiểu tại sao họ phải sang Việt Nam, phải ném bom, phải bắn vào những người trước mặt họ, kể cả người già, đàn bà và trẻ con. Hà Nội đẩy hàng hàng lớp lớp vào Nam, xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ cứu nước mà vẫn dối trá bảo rằng không có quân dội Bắc Việt ở chiến trường miền Nam, bao nhiêu là tử sĩ miền Bắc chết với hàng chữ xâm trên cánh tay “Sinh Bắc, Tử Nam”. Chính quyền miền Nam tham nhũng, quen chờ người Mỹ chi tiền, không có nỗi một sách lược, cũng đã đẩy hàng vạn thanh niên vào quân đội, trong khi con ông cháu cha, kẻ có tiền, có quyền thế trốn lính.


      Nỗi bi thảm là ai cũng cho mình chiến đấu cho Chính Nghĩa.



Tháng 9 – 2017


Thursday, September 21, 2017



NHẤT TƯỚNG CÔNG THÀNH
VẠN CỐT KHÔ

Hòa Đa

PBS đang chiếu tài liệu “Chiến Tranh Việt Nam” (THE VIETNAM WAR – do Ken Burns, Lynn Novick đạo diễn) bắt đầu từ Chúa Nhật 17/9/2017.

The Vietnam War: A Film by Ken Burns and Lynn Novick DVDThe Vietnam War: A Film by Ken Burns and Lynn Novick DVDTôi cố gắng dành thì giờ để xem, từ tập 1 (Episode one: Deja-vu) và phải nén lòng chờ cho xong năm tập đầu để ghi lại cảm giác của mình.

Dù phải công nhận bộ tài liệu này có khá hơn bộ  phim nói về cuộc chiến ở Việt Nam cũng được trình chiếu trên PBS ngày trước, phim có nhiều chi tiết hơn, phỏng vấn được nhiều người hơn, những người thường trong cuộc.  Công bình mà nói, không thể đòi hỏi những người làm phim có thể nêu lên tất cả mọi ngóc ngách của cuộc chiến. Họ cũng đã nói There is no single truth in war. Nhưng nhìn chung bộ phim đã không nêu được hết những góc khuất, và hai mảng bị bỏ rơi, hay bị xem nhẹ là công sức của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và vị trí của tổ chức  Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Cả năm tập đầu tiên này là những ghi nhận, ý kiến, nhận định về những đụng độ, trận đánh giữa quân đội Mỹ và lực lượng Bắc Việt. Theo ý kiến riêng, có thể nói không quá đáng là nên sửa lại tựa bộ phim là THE AMERICAN VIETNAM WAR cho đúng với nội dung trình bày trong phim. Các nhà làm phim muốn mô tả mọi diễn tiến của cuộc chiến từ phía người Mỹ.

Những hình ảnh trong phim được lấy từ hai nguồn chính: Những phóng sự, tài liệu do các phóng viên  ghi nhận được trên đường phố Saigon và các tỉnh thành lớn hay theo các đơn vị hành quân của Mỹ, những tính toán từ Ngũ Giác Đài, Washington, tòa Đại Sứ Mỹ ở Việt Nam… và những thước phim minh họa cho lời dẫn chuyện lấy từ những bộ phim thời sự hay tuyên truyền của Miền Bắc. Cả hai nguồn chỉ nói được một phần của cuộc chiến. Phim tài liệu của Mỹ thì chỉ nêu những tiêu cực xảy ra ở miền Nam và các hoạt động của các đơn vị tác chiến Hoa Kỳ. Phim tài liệu của miền Bắc thì chỉ sặc một chiều, lúc nào cũng ca ngợi sự hy sinh, của các chiến binh, thanh niên xung phong, dân chúng… Nói hay làm gì cũng phải theo sự chỉ đạo của đảng hay nhà nước, khó có thể tìm thấy những ý kiến trái ngược.

Ngay trong tập 1, khi nói về cuộc chiến Pháp Việt, người ta cũng thấy ngay những hình ảnh đẹp đẽ của Hồ Chí Minh (giống như những hình ảnh về cuộc đời hoạt động của ông Hồ do Trần Dân Tiên viết)  và đều lấy từ những thước phim thời sự của miền Bắc, người chủ biên của bộ phim The Vietnam War đã không nói tới sự thay hình đổi dạng và cả đổi tên, giống như một con tắc kè đổi màu cho giống môi trường chung quanh hòng đánh lừa người khác, cũng không thấy bộ phim nói tới việc ông Nguyễn Tất Thành xin vào học trường Thuộc Địa của Pháp khi sang Paris, để mong làm công chức cho Pháp và đã bị từ chối, nên mới tìm sang Liên Xô… cho đến việc ông ân cần với OSS để tỏ ra muốn gần với Mỹ trong khi ông đã là một người cộng sản được Liên xô huấn luyện và Trung Cộng giúp đỡ. 

Thời ông Diệm, bộ phim chỉ cho thấy chính quyền miền Nam lúc bấy giờ có những sai lầm chết người khi chính quyền xa rời quần chúng, đàn áp biểu tình, quân đội tham nhũng, không dám chiến đấu, nhưng bộ phim không nói tới những thành quả mà chính quyền non trẻ của ông Diệm đã làm được khi tái lập được trật tự tương đối cho miền Nam trong bối cảnh rối ren của buổi giao thời, dẹp Bình Xuyên, kêu gọi các lực lượng quân sự hay bán quân sự của các giáo phái về hợp tác với chính quyền tạo thành quân lực  của miền Nam, cũng không thấy bộ phim nói tới những cố gắng phi thường của miền Nam khi định cư và tạo điều kiện sinh hoạt cho một triệu dân di cư từ miền Bắc (lúc đó miền Nam chỉ chừng mười một triệu dân), cũng không thấy bộ phim đề cập tới những gì miền Nam làm để xây dựng một chính thể, một quốc gia với quốc hội lập hiến, rồi lập pháp, một nền tư pháp ít nhiều độc lập với hành pháp, một chính sách báo chí tự do, có thể nêu trên báo chí, phê bình những sai sót, yếu kém của chính quyền…

Bộ phim phỏng vấn nhiều người có liên quan tới cuộc chiến… Người được phỏng vấn có thể là quân nhân, viên chức chính quyền, nhà báo, nhà văn… Nhưng điều lý thú là những người được phỏng vấn nếu ở miền Nam hay người Mỹ thì họ trả lời theo sự nhận thức của họ về chuộc chiến, có thể khen có thể chê, có thể cho người xem thấy tình cảm yêu ghét đối với cuộc chiến. Còn khi phỏng vấn những người xuất thân từ phía bên kia, gần như ai cũng nói một kiểu như nhau, một lòng căm thù Mỹ, phải đánh cho đến khi giành chiến thắng, tinh thần hy sinh, chịu đựng phi thường của nhân dân, của cán bộ, bộ đội. Không thấy bộ phim phỏng vấn những người rời bỏ hàng ngũ chiến đấu về hồi chánh, người xem chỉ được nhìn những cái “hay” từ phía Việt cộng (như cách họ vẫn tuyên truyền) và không có cái “dở” nào từ chính sách của họ. Ít nhất qua năm tập đầu, bộ phim nói “tốt”, thậm chí rất tốt cho Hà Nội và nói đến cái dở của những người lên kế hoạch của Mỹ. 

* * *
Với cái quyết tâm gọi là “chống thực dân, gành độc lập”, những người ngồi vẽ kế hoạch ở Hà Nội đã đẩy bao nhiêu sinh mạng từ cả hai phía, cả dân lành vô tội vào chỗ chết.

Hơn năm mươi ngàn lính Mỹ chết trong cuộc chiến, bao nhiêu người nữa bị thương tật cả về thể xác lẫn tinh thần, mang bao nhiêu đau thương mất mát cho các gia đình các chiến binh Hoa Kỳ, chỉ do những tính toán sai lầm từ Washington, từ các tướng tư lệnh Hoa Kỳ chủ quan, đánh giặc kiểu nhà giàu, không cần biết đến ý kiến của những người Việt trực tiếp tham chiến bên cạnh họ. Hoa Kỳ đã đổ tiền bạc, xương máu của thanh niên họ vào cuộc chiến ở Việt Nam với ý định ban đầu là để ngăn chận làn sóng cộng sản đang lan xuống Đông Nam Á, và họ muốn làm chiến tranh theo cách của họ, và họ đã thất bại vì chủ quan, kiêu hãnh. 

Đã có người hỏi: liệu có cần thiết phải đổ bao nhiêu xương máu của người Mỹ, người Việt để đổi lấy một cái kết không đáng có về phía Mỹ và cái thống nhất cho một Việt Nam tan hoang?

NHẤT TƯỚNG CÔNG THÀNH VẠN CỐT KHÔ !!!

MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI Nhân cứ nhìn trộm người đàn ông phía bên kia kệ hàng của siêu thị. Ông ta không biết có người nhìn mình, v...