Sunday, March 2, 2014



Hai Quan Niệm Sống

Trong một lớp triết học, vị giáo sư già kể chuyện: Một doanh gia giàu có đi du lịch, ông dừng chân cạnh một dòng suối, nước chảy trong veo, đổ vào một hồ nhỏ tĩnh lặng. Một người đàn ông trung niên ngồi câu, cảnh đẹp như tranh vẽ, khung cảnh tĩnh mịch, nên thơ. Doanh gia đến gần gợi chuyện:
-    Chào ông, cảnh đẹp quá ông nhỉ!
-    Thưa vâng.
-    Ông câu có khá không?
-    Được vài con, đủ cho cả nhà dùng trong ngày.
Doanh gia ngắm nhìn trời đất, cả hai cùng yên lặng…
-    Nhà ông ở đâu?
-    Trong xóm nhỏ dưới kia.
-    Ông làm gì để sống?
-    Tôi làm ruộng, nhờ trời cũng đủ sống.
-    Thế ông làm gì khi không phải ra đồng làm ruộng?
-    Tôi nghỉ ngơi, thăm thú nơi này nơi kia, hay như ông thấy đó, nhàn tàn ngồi câu cá…
Trầm ngâm một lúc, doanh gia lại lên tiếng:
-    Thấy ông cũng còn trẻ, sao ông chuyển đến sống nơi phố thị  đông đúc, kiếm được việc làm dễ dàng hơn?
-    Để làm gì, thưa ông?
-    Có việc làm, ông có cơ may kiếm được tiền nhiều hơn, và nếu may mắn, ông có thể làm chủ cửa hàng, xí nghiệp… ông có thể phát triển hãng xưởng thành những đại công ty do ông làm chủ…
-    Được vậy để làm gì?
-    Được vậy, ông sẽ có cuộc sống phong lưu hơn, sung túc hơn. Ông có nhiều tiền bạc, của cải, lúc đó ông sẽ có nhiều thì giờ hơn… ông sẽ có dịp và có điều kiện thăm thú các nơi, hưởng trọn cuộc sống an lạc thoải mái.
Người nông dân quay lại và hỏi:
-    Vậy, thưa ông, ông nghĩ là tôi đang làm gì đây?

Câu chuyện ngừng ở đó. Cả hai người trong câu chuyện đều đến cùng một mục đích: vui hưởng cuộc sống an lạc thoải mái. Hai người: doanh gia và người nông dân ngồi câu trong câu chuyện đi đến mục đích của mình bằng hai cách sống khác nhau: một đàng cố gắng làm việc cần cù, tích lũy, suy nghĩ phát triển, làm giàu rồi dùng tiền bạc của mình để hưởng những gì mình muốn; đàng khác, chỉ làm đủ sống, thì giờ còn lại vui hưởng những gì đến với tầm tay mình, không ham muốn, không đòi hỏi.

Bạn và tôi, chúng ta có thể có những quan niệm sống giống một trong hai người trong câu chuyện, cũng có thể không hẳn như người này hay như người kia, mà có một quan niệm trung dung hơn, cũng làm việc, cũng kiếm tiền, phát triển… và biết ngừng lại khi mình cho là đủ: tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc?
 
Vấn đề vẫn là: tới bao nhiêu thì mình cảm thấy ĐỦ. Cái đủ của người này sẽ không là cái đủ của người khác. Nói khác hơn, câu chuyện nói trên vẫn chỉ mãi mãi là một chuyện ngụ ngôn, không hơn không kém.

Bạn có thể nghĩ tôi nói chuyện nước đôi, Ất cũng đúng mà Giáp cũng phải. Nhưng xin nghe hết ý kiến của tôi, rồi mỗi người chúng ta tự rút ra kết luận cho chính mình.

Bây giờ mời bạn nghe một chuyện khác:

Có hai quốc gia, gần giống nhau về hoàn cảnh địa dư, dân số. diện tích khoảng 500000 kilomet vuông, dân số 100 triệu, có biển, có rừng, có khoáng sản, nông sản, hải sản… Trong số 100 triệu dân này có một nửa (50 triệu) là đang lao động. và gọi tên là quốc gia ABC và XYZ. Người dân trong nước ABC có quan niệm như doanh nhân, và người dân trong nước XYZ có cách sống như người nông dân câu cá trong câu chuyện “ngụ ngôn” nói trên.
Người dân ABC làm việc 40 giờ một tuần, mỗi giờ 60 phút. Trong lúc làm việc họ luôn tìm cách tự vận động mình làm cho tốt hơn, và sản phẩm do mình hay tập thể của mình tạo ra (dù vật chất hay tinh thần) hay hơn, hữu hiệu hơn, phẩm và lượng ngày càng cao hơn.
Người dân XYZ với bản chất chỉ thích kiếm cho đủ sống, nên mỗi tuần chỉ làm 30 giờ, mỗi giờ lao động tà tà 60 phút hay ít hơn, chỉ làm đủ để tự nuôi sống và nuôi gia đình…
Tất nhiên người XYZ an nhàn hơn và người ABC bận rộn hơn. Nhưng…
Sau một thời gian, một năm hay mười năm, bạn có thể hình dung được hai nước ABC và XYZ sẽ khác nhau ra sao.
Của cải vật chất của ABC sẽ dồi dào hơn, cuộc sống sẽ sung túc hơn, dễ dàng hơn.
Ở XYZ, người ta không chế ra nổi cây đinh, con ốc… ở ABC người ta sẽ tạo ra smart phone, computer. Ở XYZ, người ta chỉ đóng được những con thuyền đơn giản đánh cá ven bờ, chiếc xe thô sơ để di chuyển, còn ở ABC, người dân có điều kiện để có những đại công ty, có những đội tàu thuyền đánh bắt cá ngoài khơi, di chuyển gần thì bằng xe, xa thì tàu hỏa, máy bay. Ở XYZ, người ta không có điều kiện để có đủ binh lực để tự vệ, ở ABC, người ta chế tạo hỏa tiển, vũ khí, tàu chiến…

Làm một con toán đơn giản, chỉ sau một năm, người dân ở ABC có được 48 tuần làm việc x 40 giờ mỗi tuần x 50 triệu lao dộng, tính ra được 96000 triệu giờ, còn ở XYZ chỉ được 72000  triệu giờ. Số sai biệt 24000 triệu giờ trong một năm sẽ làm khoảng cách giữa hai quốc gia này ngày càng lớn. Và con số đó lớn đến bao nhiêu sau mười năm, hai mươi năm? Đó là chưa kể đến thái độ (phải) tích cực lao động trong xã hội ABC và tinh thần (thích) làm việc cầm chừng ở XYZ. Tất nhiên ở XYZ người ta có thể mua computer, máy bay từ ABC, nhưng trước hết phải có tiền, và cũng tất nhiên, người ABC có thể tạm thời ngừng công việc, đi du lịch hưởng thú an nhàn khi thấy cần.

Bây giờ chúng ta hiểu vì sao, các vua quan triều Nguyễn và nhà Thanh bên Tàu đã không chịu nổi áp lực chiếm thuộc địa của các nước tây phương, và cũng hiểu vì sao chỉ trong mười năm, một nước Nhật bại trận, tàn phá vì chiến tranh lại có khả năng hồi phục nhanh như vậy, còn Việt Nam chúng ta, ba mươi lăm năm sau khi thắng trận với một nửa nước còn gần như nguyên vẹn, kinh tế lại thụt lùi đến như vậy.  Sau tháng Tư 1975, hai triệu người Việt bỏ nước ra đi, gần một triệu người lao động nơi xứ người, hòa nhập vào lối sống của các nước dung chứa, đã tạo ra bao nhiêu của cải vật chất, tinh thần và bây giờ lại là cái phao cứu sinh cho chính quyền hiện tại ở Việt Nam  khi lượng kiều hối mỗi năm gửi về (tính chính thức) lên tới mười tỉ Mỹ kim.

Chúng ta không nên so sánh Việt Nam với bất cứ ai, chỉ vì tinh thần làm việc của người Việt chúng ta không giống với bất cứ dân tộc nào khác. Việt Nam có thể có những tương đồng về địa dư, tài nguyên với vài quốc gia khác, người Việt thông minh, cần cù… nhưng không vì vậy mà hỏi tại sao ta không bằng người.
Có câu nói: “dân tộc nào, số phận nấy”. Chúng ta nghèo đói, lạc hậu, chịu thân phận nhược tiểu… chính là do tinh thần dân tộc của ta.

Ngày trước, năm mươi tuổi là tuổi lui về hưởng nhàn, nhường công việc lại cho con cháu sau khoảng ba mươi năm làm việc. Ở thời đại ngày nay, người ta làm việc trể hơn. Để làm gì? – chỉ vì người ta thấy chưa phải lúc hưởng nhàn. Do vậy, chúng ta thấy ngay, hưởng thú an nhàn còn tùy thuộc vào tuổi tác, sức khỏe, thời giờ và … cả khả năng vật chất. 

Chúng ta cũng chưa nói đến khả năng “cho ra” của người giàu. Nếu nghèo chúng ta chỉ có thể giúp được ý, nhưng nếu chúng ta giàu, cúng ta có khả năng giúp được cả ý tưởng lẫn vật liệu tiền bạc. Tất nhiên, không phải ai giàu cũng có lòng nhân, nhưng rõ ràng là nếu người có lòng nhân và giàu có thì sự giúp đỡ sẽ hữu hiệu hơn. Chúng ta hiểu rõ điều này hơn ai hết. Bỏ qua một bên những ý kiến khác nhau về chính trị, nếu nghèo chúng ta không giúp được gì cho anh em họ hàng, thậm chí cũng khó giúp người hoạn hạn, neo đơn, trẻ mồ côi… không thể đóng góp cho chùa, nhà thờ nuôi giúp kẻ khó, không liên kết được thành những hội đoàn vô vụ lợi để xây lớp học, đóng bàn ghế cho nơi này, giúp học bổng cho những thanh niên không điều kiện để họ tiếp tục việc học, đào giếng sạch, giúp chữa bệnh cho nơi khác… Chúng ta chỉ lo đủ cho bản thân và gia đình, phần còn lại không màng đến. Trong cuộc sống, chúng ta từng nghe đến những quỹ Rockefeller, Ford…giúp cho những công trình nghiên cứu trong mọi lãnh vực, tỷ phú Bill Gates, Warren Buffet đã cho đi một phần tài sản của mình cho các nghiên cứu về y tế, đẩy lùi bệnh tật, không phải cho nước Mỹ mà cho các nước kém phát triển, nghèo đói của Phi Châu…biết bao nhiêu triệu phú hàng năm đã bảo trợ cho các nghiên cứu tìm tòi tại các trường Đại học. Hay xa hơn, Alfred Nobel đã hiến hết tài sản mình cho các giải thưởng mang tên ông, tặng cho những cá nhân hay tập thể đã cống hiến cho nhân loại những thành quả trên mọi lãnh vực. 
Không nói đâu xa, ở Việt Nam một Chú Hỏa cần cù, tích lũy, khi giàu rồi cũng xây cho Saigon nhiều công trình để đời: 

Ông khởi nghiệp từ việc buôn bán ve chai, về sau ông đổi tên thành Jean Baptiste Hui Bon Hoa khi trở nên giàu có. Thành lập công ty Hui Bon Hoa, có thời là công ty bất động sản lớn sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn đồng thời xây dựng rất nhiều công trình có giá trị lớn ở vùng Sài Gòn-Gia Định vẫn còn tồn tại đến ngày nay (khách sạn Majestic, bệnh viện Từ Dũ, Bệnh Viện Đô Thành…) các công trình này đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ mặt thành phố Sài Gòn. Chú Hỏa là một trong người giàu có nhất miền Nam Việt Nam và là một người có tấm lòng hướng ra cộng đồng. Nhà biên khảo Vương Hồng Sển từng nhận xét: "Tuy làm giàu cho mình đã đành, nhưng cũng giúp ích rất nhiều cho sự mở mang thịnh vượng kinh tế miền Nam". Sự nghiệp của ông ở Việt Nam vẫn được con cháu tiếp tục sau khi ông mất, đến sau năm 1975 thì ngừng do họ đều đi ra nước ngoài sinh sống, (Theo Wikipedia)

Trái lại, nếu không giàu, chúng ta chỉ có thể hữu ích cho bản thân hay cùng lắm cho gia đình. Đúng là thú an nhàn không dành riêng cho ai. Bất kể giàu nghèo ai cũng có thể hưởng nhàn, bất cứ ở đâu, bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng chỉ khi cần, nếu không có khả năng, ta mới thấy mình không giúp gì được cho aiNếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao(Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo - Trần Trọng Kim dịch) chừng đó với  ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no, đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngõ (Hàn Nho Phong Vị Phú- Nguyễn Công Trứ) chẳng giúp được gì cho làng xóm, xã hội, dân tộc.

Trước 75, cả hai miền Việt Nam đều có chỗ đứng trong mắt thế giới, không thua Thái Lan, Hàn Quốc…, còn ngày nay chúng ta ở đâu so với các láng giềng?

Xét cho cùng, được sống an lạc vẫn là mơ ước của mọi người.

Câu hỏi vẫn là: Đến đâu được coi là ĐỦ và lúc nào có thể hưởng một cuộc sống an lạc.

Câu trả lời sẽ tùy ở quan niệm sống của mỗi người.


Hòa Đa – Tháng 3-2014

  


Friday, February 14, 2014









vài cảm nghĩ về tình tự dân tộc:



nét đặc sắc bị bỏ quên:

Nói lái


Hòa đa



               Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng có nhận xét này, mà khi chia xẻ với nhiều người Việt Nam, tôi luôn có sự đồng tình: Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt.

 

            Bạn có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại phong lọ tương chưa?

            - Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo lọ tương.

            Một giai thoại khác, ở trong Nam.  Lúc ấy, vào buổi tàn thời của nho học, người ta bỏ bút lông, giắt bút chì; một số chạy theo thực dân Pháp.  Trong số ấy có Nguyễn văn  Tâm, một lòng cúc cung với mẫu quốc, được người Pháp cất nhắc làm quan lớn;  trên dưới trong ngoài, ai cũng biết nhờ bợ đỡ quan thầy mà làm quan to. Tâm lấy làm tự đắc lắm.  Phú quí sinh lễ nghĩa, quan lớn nhà ta cũng muốn tỏ ra mình phong lưu, muốn có những bức hoành, trướng để trang trí.  Có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần, viết chân phương, rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi,  Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn, quan trọng trong triều.  Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách; ai đến thăm quan cũng đem khoe và giải thích như trên.  Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi.  Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy xin đừng bắt tội, đuổi hết tả hữu rồi giải thích: người viết liễn đã cố ý bỡn quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to;   Quần thần là bề tôi, nói theo kiểu trong Nam là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng nghe chuyện kể nói quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay vì không muốn làm vỡ chuyện mà ỉm luôn.



 Trong đời sống hàng ngày, chẳng hiếm khi chúng ta gặp những câu nói lái, đôi khi chỉ để bỡn cợt, châm biếm hay tránh những tiếng thô tục.



            Ở Nam Bộ, có câu :

                        Con cá đối nằm trên cối đá,

               Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo

              Anh mà đối được, dẫu nghèo em cũng ưng.



***



            Người Việt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hay sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau; nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe, vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra như trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần kể trên.



            Đi sâu hơn vào chi tiết: một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm.  Chữ tranh chẳng hạn gồm phụ âm tr và âm anh. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: tranh, tránh, trành (trong tròng trành) trạnh (trạnh lòng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát. 

Cũng có chữ không có phụ âm mà chỉ có âm, như trong ảnh ương hay ảo ảnh...



1. Nói Lái theo cách ngoài Bắc


Trở lại câu chuyện đại phonglọ tương nói trên. Tượng lo nói lái lại là lọ tương, người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương.



Ta lấy vài thí dụ khác:


đấu tranh nói lái lại là tránh đâu: tranh  đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh (không dấu) thành đâu.

hải phòng nói lái lại là phỏng hài: hải đổi chỗ cho phòng lấy dấu huyền của phòng thành hài, phòng đổi chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành phỏng.



Cứ theo cách ấy thì:

Sầm Sơn                                  sờn sâm

Thái Bình        nói lái là          bính thài

Giải phóng                              phỏng giái

Hà Nội                                    nồi hạ

vv.. và vv..



Như vậy thì hai chữ có cùng dấu không nói lái được, như nhân dân, anh em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật.... Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng....không thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị trí cho nhau thôi.



2. Nói lái theo kiểu trong Nam.



Trong Nam người ta nói lái theo cách khác: cá đối nói lái lại thành cối đá.

 Ta nhận thấy theo cách nói lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á thành đá.  Như vậy:

Sài gòn                                    sòn gài

Cần thơ           nói lái là          cờ thân

Cầy tơ                                     cờ tây
  Cửu long                                cỏng lưu. (dân trong Nam            phát âm như cỏng lu)
Thủ Đức                                  thức đủ      v.v... và v.v...



Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là chữ nói lái của tên thật của ông: Nguyễn Thứ Lễ.  Ngày trước đã có vế đối:


            Ngày Tết, Thế Lữ đi hai thứ lễ: lễ ta và lễ tây



Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt biến thể thành dấu sắc trong mút), như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a.



Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn, thí dụ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng:  tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.



 Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật...không nói lái được.



Ngoài ra còn một cách nói dựa trên nói lái kiểu trong Nam, không mấy người quen sử dụng. Trong cách này, người nói ghép từng chữ (trong nguyên câu) với một chữ (đã được qui ước trước giữa hai người) rồi nói lái hai chữ này với nhau.  Cách này tương đối khó, và thường gặp trong giới bình dân lao động, ít học (không biết có phải vì vậy mà không được biết đến nhiều chăng?)  Thí dụ với câu: "hôm qua tui đi ra đầu ngõ chờ em tới, mà đợi hoài không thấy..."  họ ghép từng chữ của câu trên với chữ rồi nói lái lại, và do đó câu trên trở thành :"hi lôm qui la ti lui đi li ri la đi lầu nghi lõ chi lờ i lem ti lới , mi là đi lợi hi loài khi lông thi lấy..."  họ nói chuyện với nhau rất nhanh và hiểu nhau dễ dàng, như thể đã được mã hóa  người khác không nhận ra được. Đây là cách vô cùng độc đáo mà chưa được khai thác đúng mức.



3. Vài giai thoại - câu đối - câu đố

Chúng ta đã thấy giai thoại về Đại điểm quần thần, Đại phong ở trên.  Chúng ta cũng thường nghe nói đến câu tiếng lóng hạ cờ tây là hạ cầy tơ của dân nhậu trong Nam và mộc tồn (= cây còn, nói lái thành con cầy) ở ngoài Bắc, hay những lối nói lái rất quen thuộc: chín bến đò (chó bến đình) Hương bên đèo (heo bên đường) theo con Hương (thương con heo).  Bạn đã nghe mấy chàng nhậu trong Nam nói đùa: "Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu" cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa "rượu gặp tri kỷ có trời mới biểu (bảo) thôi" (thiên = trời, bôi thiểu = biểu thôi)....

 Ở đây chỉ xin kể lại vài giai thoại mới có sau 75.



- Hồi cuối thập niên 80, Nguyễn văn Linh, tổng bí thư Cộng sản Việt Nam phát động chương trình đổi mới, thường hay nói đến đổi mới tư duy (đổi mới sự suy nghĩ của đảng viên cho kịp với trào lưu mới), người dân trong Nam ưa nói thành "đổi mới ti vi" (do cách phát âm dễ dãi của dân nam bộ) mà cũng đúng, bấy giờ cán bộ Cộng sản bắt đầu thay TV trắng đen thành TV màu.  Có lần, quanh bàn cà phê đầu hẽm, người ta nghe thấy câu hỏi: "bây giờ đổi mới ti vi rồi, chừng nào mình đổi mới tủ lạnh đây?" (tủ lạnh nói lái thành lãnh  tụ).  Nghe mà lạnh mình!



- Sau đó ít lâu, người ta lại thấy xuất hiện trên cửa miệng của người dân miền Nam và trên vài tờ báo trào phúng hai nhân vật Vũ như Cẩn, Bùi Lan để chế nhạo chuyện cải tổ nửa chừng của đảng Cộng sản Việt Nam khi họ siết chặt lại báo chí khi thấy có những phản kháng bất lợi cho đảng; vũ như cẩn bùi lan nói lái thành vẫn như cũ  bàn lui



Những giai thoại như vậy còn nhiều...



            Về câu đối, xin trở lại câu ca dao trên:

            Con cá đối nằm trên cối đá.

            Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.

            Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng ưng.



được đối là:



            Chim mỏ kiến(g) nằm trong miếng cỏ

            Chim vàng lông đáp đậu vồng lang

            Anh đà đối đặng hỏi nàng ưng chưa?



            Phải công nhận là câu đối và câu đáp không chê vào đâu được, chắc gì chúng ta tìm được câu trả lời nào hay hơn cho cô gái tinh nghịch này.


            Trong một đám cưới, có người đọc đùa câu đối:

             Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc,
             Gái Gò Công vừa gồng vừa co.
 và:        
              Trai Củ Chi chỉ cu - Gái Đôn Lò đo l...
              (Đôn lò là tên một kinh đào trong Nam)

           Một câu khác, nghe chừng như xuông miệng nói chơi, nhưng lại đối rất chỉnh, trong cả hai vế đều dùng cách nói lái:



            Kia mấy cây mía

            Có vài cái vò



            Một câu đối khác, nghe được sau 75, lúc mọi người dân trong Nam không còn gì để sinh sống, đặc biệt là giới thầy cô thuộc chế độ cũ được lưu dụng.  Dầu gì chăng nữa, trước đó họ là lớp người tuy sống nhờ đồng lương cố định, nhưng cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ.  Sau khi Cộng sản lấn chiếm miền nam vài năm, người ta nghe thấy hai câu đối tết, nhại theo Tú Xương ngày trước, nhưng rất đặc sắc và chua xót:



            Chiều ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ bán

            Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.



Thực tế là giày không còn là một phần trong y phục của thày giáo, nhưng cháo đã là phần lương thực thường thấy trong bữa ăn hàng ngày.



                Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố chiếm một vị trí tuy khiêm nhường nhưng có sức sống tuơng đối mạnh mẽ so với hò đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn thấy hò đối đáp trong sinh hoạt hàng ngày của người bình dân. Trong các dạng câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong những cách tuy dễ nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít.  Sau đây là vài câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:



            -Tổ kiến, kiển tố, đố là chi?  -   tổ kiến

            -Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai

 Bò la, bò liệt đố ai biết gì? -   khoai lang.



Những chữ mũi, lái, khứ, lai chỉ cốt để đánh lừa người bị đố



            -Con gì ở cạnh bờ sông,

            Cái mui thì nát cái cong thì còn   -  con còng (cong còn nói lái thành con còng)

            - Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng  -  ngón chưn cái

- Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn  -  con ngựa

- Miệng bà ký lớn, bà ký banh

  Tay ông cai dài, ông cai khoanh  -   canh bí, canh khoai

...



            Một vài người cũng câu nệ về nói lái, tránh đặt tên con những chữ có thể nói lái thành thô tục như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d: thái dọt, thái dúi, thái dòng...) Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn  như lài dồn, lài cồn, lài mồn...) Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm l) v.v.. và v.v..



            4. Vài suy nghĩ



            Qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, để tránh những thô tục, hay có khi cố ý ghép chữ dể hạ thấp người khác.



            Bỏ qua một bên những cái độc đáo, lắt léo của nói lái trong câu đố, câu đối; để chỉ chú ý đến phần đông các trường hợp chúng ta sử dụng nói lái như là một hình thức hạ thấp người khác.  Trong phần trên chúng ta đã thấy nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần, hay quần chúng đã nhạo báng chế độ Cộng sản qua nói lái. 



Chúng ta đã dùng nói lái như một thứ vũ khí của người muốn dùng tiểu xảo để chống đối, để chứng tỏ mình hơn người, như một thứ vũ khí của kẻ yếu, kẻ bị trị  để bôi bác, nhạo báng, ám chỉ... để hạ phẩm cách của kẻ mạnh, kẻ thống trị.  Nhưng tại sao chúng ta có những cách rất tiêu cực như vậy? - Phải chăng vì hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng.  Người dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của kẻ thống trị.  Về lý, không thể bắt tội một người khi họ muốn đổi mới tủ lạnh của họ được, nhưng ai cũng biết người ta muốn ám chỉ gì. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là chúng ta có nên duy trì mãi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không?  Ai cũng thấy rõ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại.  Chính vì chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực của tập thể cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại lâu trong vị trí và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta bị trị lâu đến như vậy.



            Dù vậy, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn nhữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc... (và chúng ta chỉ nên khai thác khía cạnh tích cực này), chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt.



            Tháng 10 năm 2000

Viết lại tháng 2 năm 2014




MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI Nhân cứ nhìn trộm người đàn ông phía bên kia kệ hàng của siêu thị. Ông ta không biết có người nhìn mình, v...